Hồng Lĩnh một vùng đất danh nhân - danh thắng - 11 June 2011 - 08 văn hóa học - Đại học Sư Phạm Đà Nẵng


Chào mừng Các bạn đã ghé thăm Website của tập thể lớp chúng tôi vào Thứ 4, ngày 18/01/2017, lúc 10:00 PM. Chúc bạn tìm được những điều bạn cần trên Website của lớp chúng tôi. Nếu Bạn muốn Download tài liệu thì xin vui lòng đăng nhập để thấy linhk, nếu có thắc mắc gì xin vui lòng liên hệ với Quản trị Website theo số điện thoại: 0985639026 hoặc Email: chinh08cvhh@gmail.com. Xin chân thành cảm ơn các bạn.
Trang chủ » 2011 » Tháng 06 » 11 » Hồng Lĩnh một vùng đất danh nhân - danh thắng
9:36 PM
Hồng Lĩnh một vùng đất danh nhân - danh thắng

Hồng Lĩnh một vùng đất danh nhân - danh thắng

(TĐKT)-Thị xã Hồng Lĩnh thuộc Tỉnh Hà Tĩnh  được thành lập (02/3/1992), thật là hợp với Thiên thời - Địa lợi - Nhân hoà! Bởi nơi đây vốn có một nền văn hoá lâu đời, có bề dày hàng ngàn năm lịch sử, là nơi giao lưu giữa 2 miền Bắc - Nam và Quốc tế, với cái thế kề sông, tựa núi, "hình long cuốn, hổ ngồi" của các bậc Đế Vương xưa. Như ông cha ta thường nói: "Đất lành, chim đậu" chính vì vậy mà những cánh chim Hồng đã về đây đậu đỉnh non cao và cái tên "Hồng Lĩnh" cũng bắt nguồn từ đó. Tương tuyền vào buổi mới khai sơn, phá thạch ông Đùng là người sắp xếp các núi non, số núi ông vừa điểm được 99 đỉnh, thì cũng vừa lúc đó có một đàn chim Hồng bay đến đậu. Nên núi cũng mang tên là Hồng Lĩnh hay Hồng Sơn, tiếng địa phương gọi là ngàn Hống.

Dòng tư duy dân dã  trôi chảy theo Lịch sử hội tụ lại để coi đây là cái nôi của tổ tiên Hồng Lạc, có dòng sữa ngọt lành đã nuôi dưỡng một bộ phận dân tộc trong thuở hồng hoang.

 

Tương truyền buổi ban đầu dựng nước, phải tìm đất đóng đô, Kinh Dương Vương vị vua khai sáng ra Triều Hùng đã hướng vào vùng danh thắng núi Hồng này. Đó là một ngày mùa xuân, biển trời êm ả, cửa sông rộng, sóng nước dạt dào. Hai bên bờ cảnh vật hiền hoà, tươi sáng. Ngàn Hống xanh những đồi cây, suối chảy như những làn mây bạc. Vẻ hùng tráng của chốn sơn cao, thuỷ thâm khiến  Kinh Dương Vương cảm kích. Ngài cứ để cho thuyền ngự rẽ nước đi ngược lên! Thuyền đang đi giữa đất trời sông nước mênh mang, bỗng có một đợt sóng hồng xô tới và một mỹ nữ hiện lên, "Tuy dầm hơi nước, nhưng không loà bóng gương". Nàng tươi đẹp như tiên sa, cá lặn. Nhà vua ngỡ ngàng như trong mộng. Ngài hỏi:

- Sao lại có chuyện tiên nữ buớc xuống cõi trần gian thế này, chẳng hay tên họ người ngọc là gì ?

Người con gái e thẹn, dịu dàng đáp:

- Muôn tâu Thánh Thượng, tiện thiếp cũng chỉ là con người của thế tục thôi. Thiếp sinh ra ở chốn ngàn Hống kia. Nhờ phép thiêng của sông núi mà thiếp biết lướt sóng, cưỡi mây nên được đặt tên là Thần Long. Chẳng hay Thánh Thượng cho ngược thuyền rồng lên chốn sông sâu, núi hiểm này với những cao kiến gì? Nhà vua phấn chấn đáp:

- Vâng lời sông núi, ta đang đi tìm nơi thắng địa định đô để lo toan việc lớn. Nàng tiên nữ với dung nhan tuyệt trần có thể gúp ta được ý kiến nào chăng ?

Thiếu nữ đưa đôi bàn tay ngọc ngà vuốt lại mái tóc còn ngấm nước rồi mỉm cười rạng rỡ, cặp mắt diễm lệ của nàng ánh lên những niềm vui hy vọng, nàng nói:

- Thánh Thượng cứ định đô ở nơi đây một thời gian thử xem. Nơi đây tuy viêm nhiệt, xung hàn, lắm cuồng phong và hay gặp hồng thuỷ nhưng thiên địa, nhân gian lại giao hoà, dễ là nơi sáng nghiệp của các bậc Đế  Vương.

Đúng là: "mến cảnh, mến người, nên mến cả", Kinh Dương vương nghe lời, bèn truyền lệnh cho thuyền rồng cập bến, cùng Thần Long dạo gót núi Hồng. ở đây núi dăng nên luỹ, khe chảy thành hào. Non đủ cao, sông đủ sâu, đồng điền đủ rộng, khả dĩ, con người có thể tự làm lụng để nuôi sống lâu dài. Nhà vua đứng trên núi cao, phóng tầm mắt ra xa muôn trùng sóng cả, núi non địa bàn hiểm trở, tiến có thế công, thoái có thể thủ, là điều lợi thế bậc nhất cho một Vương triều mới sơ khai định đô. Với tầm nhìn bao quát càn khôn đó, Kinh Dương Vương đã cho dựng Hoàng Thành ở đây. Kinh thành xây xong thì nhà vua cưới Thần Long làm Hoàng Hậu cả nước vui mừng, tự hào. Từ đó, Kinh đô Ngàn Hống đã mở ra một thời kỳ mới của của đất nước Văn Lang. Sau một thời gian định độ, hai người sinh ra Long Vương, Long Vương lớn lên có phong dạng Đế Vương, để định chính đô giữ giang sơn, cơ nghiệp rộng lớn của tổ tiên, Kinh Dương Vương đã thiên đô ra Nghĩa Linh (Vĩnh Phú), cử Long Vương ra trấn giữ kinh thành. Đó là Vua Hùng thứ nhất( Từ kinh Dương Vương truyền đến Hùng Vương- 258 trước công nguyên). Không còn là thủ đô của đất nước, nhưng dấu tích về một kinh thành Ngàn Hống với những thiên truyện thần kỳ trên dãy núi 99 ngọn, vẫn Còn sống mãi trong tâm trí nhân gian...

Hồng Lĩnh, còn là một vùng đất "Văn vật hữu dư", có sự phát triển khá sớm, khá rực rỡ về chính trị, kinh tế, văn hoá, học vấn. Nơi đây được hun đúc khí thiêng của núi sông nên đã sinh ra nhiều nhân tài tuấn kiệt

Sông về cho núi khoả chân,

Để đất nuôi dưỡng văn nhân cho đời.

(Ca dao)

Bên dòng sông Minh trong xanh, hiền hoà êm chảy, tưới mát cho những cánh đồng Đức Thuận thẳng cánh cò bay, nổi lên một hòn Núi Ngọc, gọi là Ngọc Sơn. Đứng xa nhìn núi giống hình chim "Phượng Hoàng khai khẩu", Hay giống chiếc ấn ngọc. Núi dáng tròn, cây cối xanh tốt. Dưới núi là quê hương 2 cha con Trạng Nguyên  họ sử. Hiện nay, bên triền núi còn có đền thờ 2 ông trạng, với tấm biển đề "Song Trạng Nguyên Từ", Trước đền có câu đối:

Ngọc Lĩnh thiên trùng tiêu giáp đệ.

Minh Hà nhất phái diễn gia khương

Nghĩa là:

Nghìn tầm núi Ngọc nên khoa giáp

Một giải sông Minh cuộn phúc lành.

 

Trạng cha: Sử Hy Nhan (? - 1424), đỗ trạng nguyên khoa Quý mạo, triều Trần Duệ Tông (1363), làm quan đến hành khiển tri kinh điển( kế cận Tể Tướng) được ban "Kim ngư đại" (túi cá vàng - quan to trong triều mới được vua ban cho túi này). ông học rộng, không sách nào là không đọc, giỏi sử nên được vua cho đổi thành họ Sử. Trước tác của ông có nhiều, nhưng bị mất mát trong thời giặc Minh sang xâm lược nước ta. Nay trong "Quần hiền thi tập" còn chép bài phú: "Trảm xà kiếm" của ông. Ông còn là tác giả bộ: "Đại Việt sử lược".

 

Trạng con là Sử Đức Huy( ? - 1430) đỗ Trạng nguyên khoa Tân Dậu triều Trần Phế Đế (1381). Ông là người tài, đức song toàn, khi người  cha thân  yêu qua đời, ông theo Lê Lợi đánh giặc Minh và được Lê Lơị trọng dụng cử làm: Hàn lâm viện sử quán, Quốc tử Bác sỹ, thăng đến chức Thượng Thư bộ hộ. Hai lần, ông được cử đi sứ phương bắc. Tuy không làm chánh sứ, nhưng tài ngoại giao, trí tuệ uyên bác, văn thơ xướng hoạ của ông đã làm rạng rỡ Quốc thể. Các văn thần nhà Minh đều tấm tắc khen Sử Đức Huy, kính trọng và tôn ông là bậc: Lưỡng Quốc thánh tâm thần khẩu.

 

Hai cha con Trạng Sử là nhưng người khai khoa ở Bình Lãng, mở ra một thời kỳ phát triển văn hoá rực rỡ  ở vùng bãi vọt hẻo lánh xưa. Hồi ấy xứ Nghệ có bài thơ ca ngợi:

Cha Trạng đầu con lại Trạng đầu,

Mấy đời phúc ấm nối truyền nhau.

Phong vân gặp hội đua tay bút,

Nức tiếng khoa danh khắp mọi châu.

 

Phía Nam mé tây núi Hồng, ở Độ Liêu có danh nhân Bùi Cầm Hổ, một trong những bậc đệ nhất Ngự sử nước ta.  "ông là người cứng cõi, ngay thẳng, bạo nói, không sợ quyền thế". Làm quan dưới các Triều Lê Thái tổ, Thái tôn, Nhân tôn, hai lần đi sứ Trung Quốc, trải thăng tham tri chính sự. Ông phán xét công việc công minh, chính trực. Ông còn giải oan cho một người phụ nữ ở Long thành mua nhầm lươn là con hoàng xà(rắn đầu trắng có độc) nấu cháo cho chồng ăn chết. Ông là người văn võ song toàn có nhiều công đức giúp vua giữ nước:

 

Đức cả, tài cao vua trọng dụng

Tính ngay, rộng lượng Sử lưu truyền.

 

Khi ông mất được truy phong: Bỉnh trung Đại Vương, Đô đài Ngự sử.

Đối với quê hương, ông là người có công lớn xẻ khe ở núi Hồng Lĩnh, đắp đập, khơi ngòi lấy nước tưới cho hàng nghìn khoảnh ruộng ở Độ Liêu xanh tốt. Sau khi ông mất, dân làng lập đền thờ ở núi Bạch Tị, gọi là đền Đô Đài. Các Triều đều phong Phúc Thần. Hằng năm vào ngày 12 tháng giêng âm lịch dân làng làm lễ báo ân để ghi nhớ công đức của ông. Đền đã được tu tạo, trong đền còn lưu lại nhiều câu đối ca ngợi ông:

- "Khê thuỷ, trường lưu thiên cổ trạch

Thiện canh, giải phá bách niên oan"

- "Công ư bang quốc, danh ư sử

Khí tại Sơn hà, trạch tại nhân".

- "Hai lần viễn sứ lừng đất Bắc

Một tay lương đống sáng trời Nam"

 

Hồng Lĩnh hình thế hùng vĩ có nhiều danh thắng ! được xếp vào một trong chín cảnh đẹp của đất nước cho khắc vào "Anh đỉnh" đặt trong Hoàng Thành Huế. Năm Minh Mệnh thứ 17, khắc tượng vào Anh đỉnh, năm Thiệu Trị thứ 3, khi Bắc tuần nhà vua làm thơ vịnh cho khắc vào bia, dựng nhà bia ở phía tả đường đi. Bài thơ này có chép trong Thánh chế thi tập". Năm Tự Đức thứ 3, nhận núi  Hồng Lĩnh là danh sơn Hà Tĩnh và ghi vào điển thờ - (Đại Nam nhất thống chí).

Bài thơ ca ngợi cảnh núi Hồng của vua Thiệu Trị như sau:

Vịnh hồng lĩnh

Cửu thập cửu phong thứ đệ bài,

Tằng tằng trữ lập vọng thôi ngôi.

Triền già Hương Tích kim do tại

Cơ chỉ Trang Vương sự dĩ khôi

Dã hạc tương truyền thê đỉnh thượng

Chinh hồng phản vị trước danh lai.

Sầm khâm điệp chướng liên thiên bích.

Bản lĩnh vân phong, bản lĩnh khai"

(Thiệu Trị - Tam niên - Thập nhị nguyệt - Ngự đề)

 

Bài thơ được Cụ Võ Hồng Huy dịch như sau:

Chín chín non cao khéo sắp bày,

Tầng tầng thẳng đứng tựa thành xây

Chùa chiền Hương Tích nay còn đó

Nền móng Trang Vương trước phải đây

Chim kể đầu non bầy hạc đậu

Tiếng đồn trên nhỏn vạt hồng bay

Non cao trời thắm liền xanh giải

Nửa núi thanh quang, nửa núi mây.

(Tháng chạp, năm Thiệu Trị thứ 3, nhà vua đề thơ).

 

Nói đến danh thắng núi Hồng, người xưa còn lưu lại những bài vè nôm na, nhưng gợi cảm, đọc lên nghe cái thú của "Tao nhân, mặc khách".

 

...Lên Long Đàm, Sư Tử

Ngồi tựa gốc thông cao

Ai muốn trẹ đường nào

Mặc nhân tâm thích ý

Mặc dạ người thích ý

Dời chân đi một thỉ

Vừa đến cõi Tượng Sơn....

Chùa Long Đàm, tương truyền xưa có một con rồng bơi lặn trong đầm này. Một hôm trời mưa to, rồng cuộn mây bay lên, để sót lại nhiều ngọc Minh Châu dưới đầm. Đêm thanh thường trông thấy ánh sáng vằng vặc. Vì thế người ta dựng chùa trên đầm gọi là: "Long Đàm". Chùa dựng vào khoảng thế kỷ 16,17, đã nổi tiểng một thời về cảnh gió mát, trăng thanh.

 

Lên nữa là đến ngọn Sư Tử, sườn núi có suối  bay, theo vách đá mà chảy xuống, xói đá thành vực, cửa vực có phiến đá trắng vắt ngang, tục gọi là: "Dục tiên kiều"- (cầu tiên tắm). Suối chảy chếch về hướng Tây - Nam gọi là suối tiên

(nay thuộc phường Bắc Hồng). Suối tiên chảy giữa non xanh, nước biếc, điểm tô thêm mối duyên nợ giữa non và nước. Nước uốn lượn giữa những cặp đá ông - đá bà mọc lên trong lòng suối, hàng ngàn năm nay vẫn còn trơ gan cùng tuế nguyệt, mà người đời đã có thơ vịnh:

Nghìn năm giữ vững lòng son sắt.

Muôn kiếp không phai nghĩa vợ chồng!

Không sợ nắng mưa không sợ bão

Ghẹo ai lay chuyển, ghẹo ai rung.

Suối tiên chảy vào hồ Thiên Tượng tạo nên một vùng non xanh, nước biếc, mây trời, cảnh quan kỳ thú:

 

Hồ Thiên Tượng Di tích danh thắng Quốc gia

Thiên Tượng khen ai tạo cảnh hồ,

Một vùng kỳ thú đá lô nhô.

Mênh mang nước biếc, mây vờn núi,

Bát ngát trời xanh, sóng vỗ bờ.

Lúng liếng thuyền nan sang bến đợi,

Lung linh thông núi dáng em chờ.

Hoa rừng hái tặng bâng khuâng lạ,

Khúc nhạc lòng ta nẩy tứ thơ.

(Vịnh hồ Thiên Tượng - Chí Thành)

Dời chân sang là đến ngọn Tượng Sơn (tức ngọn Thiên Tượng), nằm ở phía Bắc mé Tây núi Hồng (thuộc địa phận xã Trung Lương) là đệ nhị danh thắng núi Hồng (sau Hương Tích). Sườn núi có khối đá lớn giống hình con voi do thiên nhiên, tạo hoá tạc nên, nên gọi là "Voi trời". Trên núi có chùa gọi là chùa Thiên Tượng, ngoài chùa vẫn còn 3 chữ lớn: "Thiên Tượng tự". Bên tả, bên hữu chùa đều có suối nước chảy quanh năm, nước xói vào đá nghe như tiếng nhạc rì rào. Trước chùa trông ra hồ lớn, nước khe chảy vào hồ, nào cây thông, nào thang đá, phong cảnh u nhã. Cách chùa về phía tây có một am nhỏ, mặt am có đề 3 chữ: "Lưu đức  am". Hai bên có câu đối.

Độn siêu sinh tử quật

Khiêu xuất thị phi môn

Nghĩa là:

Cúi đầu chui khỏi hang sinh tử

Nhảy thoát ra ngoài cửa thị phi

Chùa được dựng vào đời Trần thế kỷ XIV. Cảnh chùa, cảnh núi suốt mấy trăm năm từ đời Lê đến đời Nguyễn đã biết bao nhiêu nhà thơ đã từng lên đây và để lại không ít tác phẩm thi ca. Nay đọc lên vẫn nghe man mác lòng người.

Sách "Hoan châu phong thổ ký" của Tiến sỹ Trần Danh Lâm (1704-1777), người tỉnh Bắc Ninh làm đốc đồng Nghệ An viết:

"...Chùa Thiên Tượng thanh cao thoát tục. Một vùng cõi tĩnh, chùa Long Đàm gió mát, trăng trong".

Thám hoa Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) lên thăm cảnh chùa cảm tác!

Trải xem thế giới khắp ba nghìn,

Đồi một là đây chốn Tượng Thiên

Ánh ỏi chim ca vang tiếng kệ

Nhặt khoan, tiếng suối tỏ rừng thiền....

Hay Nguyễn Văn Cơ trong bài: "Đăng Thiên Tượng sơn" ( lên núi Thiên Tượng) cuối thế kỷ XIX đã tả:

...Tuyết mê tượng thạch lam già tự

Nguyệt đáo long tuyền nguyệt mãn lâm...

Nghĩa là:

Tuyết mờ voi đá, chùa sương khuất

Trăng rọi khe rồng rừng trắng phau.

Hồng Lĩnh đã trở thành biểu tượng, niềm vinh dự, tự hào không những của Thị xã trẻ mà còn của cả tỉnh, cả nước được ghi vào sử sách, đi vào thơ ca, nhạc hoạ đọng lại trong tâm trí mọi người.

Danh thắng Hồng Lĩnh như đại thi hào Nguyễn Du đã viết: "Hồng Lĩnh, Lam giang vô hạn thắng" Nghĩa là: - cảnh đẹp Hồng - Lam khôn tả xiết.

Hồng Lĩnh là mảnh đất làm nên cốt cách, tâm hồn của biết bao nhiêu nhà văn hoá lỗi lạc mà tên tuổi và tác phẩm đã hoá thành hồn thiên sông núi.

Khu vực Chùa và hồ Thiên Tượng thuộc dãy núi Hồng - Thị xã Hồng Lĩnh đã được xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh Quốc gia theo quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004 của Bộ trưởng Bộ VH-TT (Nay là Bộ văn hóa - thể thao và du lịch)

Giữ gìn những vốn quý, những tinh hoa văn hoá của quê hương, đất nước phát huy những giá trị văn hoá vô giá đó cho hôm nay, cho ngày mai và cho muôn đời sau… Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Thị xã Hồng Lĩnh đang khôi phục, tôn tạo các di tích Lịch sử- Văn hóa, danh thắng núi Hồng để xứng đáng với tầm vóc của một vùng địa linh, nhân kiệt./.

Bùi Chí Thành

Trưởng phòng VH-TT-TT Thị xã Hồng Lĩnh

Chủ đề: Di tích Thắng cảnh | Lượt xem: 365 | Đăng bởi: hoangtu_bongdem2912_86 | Đánh giá: 0.0/0
Total comments: 0
Chỉ thành viên mới có thể thêm ý kiến.
[ Đăng ký | Đăng nhập ]
 
Trang chủ | Lý lịch! | Ghi danh | Đăng xuất | Đăng nhập 

Website được phát triển bởi các thành viên lớp 08cvhh - Khoa Ngữ Văn - Trường đại học Sư Phạm Đà Nẵng

== Website bắt đầu hoạt động từ ngày 01 tháng 5 năm 2011==