Lễ Hội Đắk Lắk - 19 May 2011 - 08 văn hóa học - Đại học Sư Phạm Đà Nẵng


Chào mừng Các bạn đã ghé thăm Website của tập thể lớp chúng tôi vào Thứ 2, ngày 05/12/2016, lúc 6:28 PM. Chúc bạn tìm được những điều bạn cần trên Website của lớp chúng tôi. Nếu Bạn muốn Download tài liệu thì xin vui lòng đăng nhập để thấy linhk, nếu có thắc mắc gì xin vui lòng liên hệ với Quản trị Website theo số điện thoại: 0985639026 hoặc Email: chinh08cvhh@gmail.com. Xin chân thành cảm ơn các bạn.
Trang chủ » 2011 » Tháng 05 » 19 » Lễ Hội Đắk Lắk
10:31 PM
Lễ Hội Đắk Lắk

Lễ Hội Đắk Lắk

LỄ MỪNG TUỔI LỚN KHÔN - ĐẮK LẮK

Trong nếp sống cổ truyền của người Êđê,có những lễ hội liên quan tới đời sống chung của cộng đồng ,cũng có những lễ hội của gia đình ,hoặc cho một thành viên …Trong số đó thì lễ mừng tuổi lớn khôn (hay Mpuh)được coi là rất đặc sắc .Có thể đây là vang bòng của lễ trưởng thành dành cho thanh niên trong bộ tộc xưa .

 

Lễ được tiến hành khi chàng trai Êđê đã biết dùng rìu đẵn gỗ ,ngã cây dùng rựa phát rẫy trồng lúa ,lại biết cầm khiên múa kiếm ,giương nỏ bắn gục con thú hoang dại của rừng về phá họai nương rẫy ,và cao hơn nữ là biết phóng lao đâm chết cả hổ ,heo rừng…

 

Xưa,luật tục Êđê định rằng ,hễ nghe Mtao(tù trưởng )kêu gọi ,lập tức tất cả trai tráng đều lên đường đánh giặc ,đuổi cướp ,giữ plây giữ bến nước của ông bà ,cha mẹ.Người già kể rằng ,vào thời anh hùng Đam San làm tù trưởng ,buôn của chàng là buôn lớn nhất trong vùng ,trâu bò đếm không xuể .Nhà tù trưởng Đam San có nhiều ché túc,ché tang với những dàn chiêng mỗi khi lên tiếng thì âm thanh bay khắp bầu trời .Các thần Trời,thần Núi ,thần Sông đều lắng nghe và hết lòng giúp sức cho người anh hùng thu phục núi rừng về một mối ,cho người Êđê yên ổn làm ăn trên buôn rẫy vủa mình.

 

Muốn làm trán đinh của Đam San thì phải bắt được con heo rừng ,bò rừng về mổ thịt đãi cả buôn như để trình báo tài năng của mình trước cộng đồng .Ché rượu cần thơm nhất sẽ dược mở ra mời người chiến thắng .Từ buổi ấy ,chàng trai được già làng công nhận là "chàng trai Êđê”.Chàng được trao khiên ,kiếm,được làm lễ cúng trời để đi laập chiến công khắp nuí xa rừng gần .Chàng trai Êđê từ buồi lớn khôn cóp trách nhiệm góp sức mình làm cho buôn rẫy giàu mạnh lên mãi .Người già Êđê thời nào cũng nhắc nhở con cháu hãy nhớ lấy cội nguồn của bộ tộc mình .

 

Từ tinh mơ ,chàng trai đã thức dậy ,mặc quần áo cổ truyền mới nhất ,đóng chiếc khố đẹp nhất ,quấn chiếc khăn mềm mại nhất ,chân đi đôi dép da trâu mà ông bà xưa thường dùng để đi rừng ,vai đeo bầu nước .

 

Những tia nắng mặt trời buổi sáng chiếu xuyên qua vòm lá vào thẳng cửa sổ phía đông nhà dài .Lúc này các bếp trong buôn cũng đã đỏ lửa .Ngọn lửa của người cùng ngọn lửa của trời nuôi sống ,sưởi ấm con người ,đuổi ma quỷ và xua tan mọi điều xấu gở ,rủi ro ra khỏi đời sống buôn rẫy .Tay phai cầm kiếm ,tay trái cầm khiên,chàng trai Êđê đi ra bến nứớc tắm để tẩy rửa mọi tội lỗi của quá khứ .Bến nước sáng ngày được dành riêng cho ngừơi Ê đê sắp bước vào làm lễ Mpuh .Một hành động tượng trưng :chàng trai tới nơi máng nước ,tháo khăn rồi gội đầu ,rửa mặt trước sự chứng giám của trời ,đất và thần bến nước ,cùng sự hiện diện của bà con trong buôn .Chàng hứng đầy một bầu nước tinh khôi chảy ra từ lòng đất ,đem về để cúng thần cầu sức khỏe cho mọi người .Đất và nước ,lửa và ánh sáng ,lúa ngô trên rẫy ,đóa là nguồn sống bất tận trong buôn …

 

Heo đã mổ xong ,đầu được giữ để làm lễ cúng ,một thăn thịt dài lóc từ gáy tới đuôi cuốn một vòng vào cột Piê,nơi buộc ché rưỡu để cúng thần .Người điều hành lễ cắm hai cần vào ché rượu quay về hướng đông :một cần dành cho thần ,một cần dành cho đương sự .

 

 

Chàng trai bước tới gần cầu thang ,ở đây có hai cây chuối đã trồng sẵn .Chàng vung kiếm chém một nhát đứt cây bên phải ,nhát thứ hai đứt cây bên trái .sau đó chàng từ từ bước lên cầu thang .Bà mẹ Êđê mặc Yêng (váy)áo mới trang nghiêm và hiền từ đứng sẵn ở đầu sàn ,bên cầu thang đợpi đứa con về .Bà cất giọng hỏi :

 

-Chào con trai của mẹ ,con từ đâu đến ?Có phải con đi đánh giặc phía đông ,múa khiêng phía tây ,thắng trận trở về ?

 

Chàng trai lễ độ đáp :

 

-Chào mẹ ,con chào người mẹ của đất rừng Êđê .Đúng như mẹ nói ,con đã múa khiêng từ phía tây ,múa kiếm từ phía đông …giờ đây con đem vinh quang về cho mẹ .

 

Tất cả dân chúng trong buôn đều nghe rõ cuộc đối thoại giữa người mẹ và ngừơi con trai .Bà mẹ đứng lui ra một bên .Chàng trai bước vào nhà ,dựa kiếm vào vách phía đông ,rồi ra ngồi đối diện với thầy cúng .Bảy ché rượu cần được buộc vào bảy chiếc cột thành một hàng dọc giữ ngôi nhà .Thầy cúng ngồi trước ché rượu đầu tiên ,mặt hướng về phía đông ,ngón trỏ tay phải đặt trên miệng ché .

 

Trống chiêng nổi lên từng hồi dồn dập ,hối hả mở đầu buổi lễ .Dân trong buôn kéo tới mỗi lúc một đông .Gịong thầy cúng vang lên đều đều ,nhưng phải ngồi sát một bên mới nghe rõ .bởi tiếng nhạc ,tiếng chiêng đã át đi mất phần nào :

 

"Hỡi các thần ,

Tôi gọi vị thần hướng đông ,thần hướng tây ,thần hộ mệnh ,thần nuôi dưỡng

Người này sáng hôm nay ,ngày hôm kia

ở chòi đã yên ,về nhà được lành ,

biết làm ra lúa ,ra bắp ,nay đã lớn khôn .

Trồng chuối ,chuối sai quả ;trồng mía ,mía ngọt .

Người này nhờ thần giúp cho:bền như gang ,dẻo như đồng , cừng như sắt .

Sức mới ,hơi thở mới ,con người luôn luôn khỏe mạnh ,bình yên.

Heo thiến cùng bảy ché rượu đã được bày sẵn cúng thần .

Thịt cũng đã chia phần cho tất cả các bếp trong buôn .

Rượu nồng hay nhạt xin hãy cùng uống .

Cầu cho mọi người đều gặp may mắn tốt lành .

Hỡi các thần”

 

Thầy cúng đứng lên trao khiêng và kiếm cho chàng trai ,trong khi chiêng trống rền vang ca ngợi hạnh phúc cả buôn .Cuộc lễ lần thứ nhất đã xong .

 

Chàng trai múa khiên,múa kiếm vui chơi .Các cô gái té nước ,chàng trai giơ khiên đỡ mặt ,đỡ ngực .Bà con chen nhau ở vòng ngòai xem cuộc đua tài ,đua vui.Té nước là trò chơi vui khỏe của thanh niên nam nữ Êđê .Mỗi lần chàng trai tránh né được thì một cô gái mang thịt đến tặng chàng một miếng như tiếp sức ,khen ngợi , chúc nừng .Còn ngược lại ,mặt hay ngực bị ướt thì cũng coi như đó là điều may.

 

Trong khi đó ông Pô kai piê(người mời rượu )đi mời lần lượt từng người tới ngồi bên ché rượu và vít đầu cần .Phụ nữ bao giờ cũng được mời uống trước ,nam giới uống sau .Họ hàng gần uống trước ,người xa uống sau .Vui chơi thỏai mái ,nhưng tục lệ nề nếp phải giữ .

 

Trời đã về chiều .Sau khi đã ăn uống no say ,mỗi người tự do chọn chỗ nghỉ tạm để chờ cuộc lễ thứ 2 .

 

Nghi lễ lần này bắt đầu vào khỏang 10h đêm,khởi đầu bằng việc đốt sáng 7 ngọn đuốc làm bằng nhựa cây trai.Anh lửa cháy sáng như có sức đẩy lùi bóng đêm (mà theo quan niệm của người Êđê là nơi ma quỷ hay ẩn náu ),mang lại niềm vui và sức mạnh cho mọi người .

 

Ông Pô chất đing (người điều khiển lễ )trao khiên và kiếm cho chàng trai rồi dẫn anh đến ngồi đối diện với thần cúng .Chàng trai trong tư thế của người sắp lên đường ,vai mang bầu nước ,chân đi dép da trâu .Ánh sáng từ 7 ngọn đuốc soi lên mặt đầy cương nghị của người chấp lễ đang ngồi bất động như một pho tượng .

 

Chiêng trống vẫn nổi lên dồn dập từng hồi .Không gian đầy ắp âm thanh hào hùng và ánh sáng lung linh của 7 ngọn đuốc bằng nhựa cây rừng đang cháy như thúc giục ,gợi mở trong tâm trí mọi người ý thức vươn tới lối sống cao đẹp ,xứng đáng là những con cháu của Đam San .Và đêm nay ,chàng trai phải thức trắng cùng với buôn làng.

 

Người thầy cúng cầm 2 chiếc khăn đỏ ,bước 7 bước ngắn ,cứ mỗi bước lại hô lên một tiếng ,đến trước mặt người chịu lễ ,đưa tay quàng chiếc khăn vào cổ,dẫn đi trình Yang với lờ khấn như sau:”Chàng trai này xứng đáng là con cháu của người Êđê”

 

Người ta cắt dãi thịt buộc vòng quanh cột cúng Piê ,đem xắt nhỏ ,gói từng nhúm trong lá chuối ,chia đều cho người trong buôn .Riêng vẫn còn một ché rượu cần đầy nguyên vẹn dành cho cuộc vui tiếp theo. Một cụ già được mời tới bên ché rượu. cụ đưa tay vít cần, thưởng thức ngụm rượu đầu tiên. Ánh đuốc soi sáng bộ mặt xương xương của ngừoi già từng trải với chiệc tảu nhồi đầy thuốc lá đang bộc khói giữa đôi môi miếm lại. sau khi hút một hơi rượu cần thứ hai , cụ già bắt đầu lên giọng kể Khan ( trường ca Ê Đê). Tiếng cụ vang lên ấm áp. Mọi c6au chuyện trao đổi riêng tư của nhóm này, người nọ đang xôn xao bỗng nhiên ngừng hẳn. người ta lắng nghe từng lời kể như hớp ngụm rượu nồng cay trong ché quý. Cứ thế, bằng giọng kể khi trầm khi bổng, cụ đưa mọi người trở về sống lại trong không khí lịch sử xa xưa và đầy tự hào với bao chiến công huy hoàng, rực rỡ…

 

Tiếng gà trong Buôn đã gáy sang canh tử từ lâu, nhưng lời kể Khan vẫn vang lên không dứt. lúc này, ai nấy cũng đã ngà ngà say. Riêng chàng trai Ê Đê được thụ lễ hôm nay như được truyền thêm sức mạnh mới , sức mạnh của bao thế hệ người Ê Đê đã được chắt lại trong lời ca , trong chuyện tích và cả trong tiếng nói đầy ắp tục ngữ, ca dao:

 

Có măng mới có cây le

Có tắc kè vì có cây

Có hàng trăm hàng ngàn con người

Vì có cha có mẹ…

 

Đằng đông trời bắt đầu rạng sáng. Trong phút chốc, những tia nắng vàng rực rỡ xuyên thủng khói mây màu sữa, chiếu thẳng lên không trung, báo hiệu một ngày mới bắt đầu.

 

Thế là chàng trai Ê Đê trong lễ Mpuh đã sống qua một vòng thời gian liên tục từ ngày sang đêm, rồi từ đêm nối ngày, gắn bó với cộng đồng của mình cả hiện tại và quá khứ, trong lễ công nhận đến tuổi lớn khôn , người thầy cúng đã cầu mong cho chàng nhận được sự truyền nối sức mạnh truyện thống của bộ tộc mình

___________________________________

LỄ CÚNG BẾN NƯỚC CỦA NGƯỜI Ê ĐÊ - ĐẮK LẮK

Một trong những phong tục tập quán lâu đời nhất của đồng bào dân tộc Êđê là Lễ cúng bến nước được tổ chức hằng năm sau mùa thu hoạch để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đây cũng là một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang nhiều ý nghĩa tích cực trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Êđê.

 

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương nên phong tục này đã được bảo tồn và tổ chức hàng năm nhằm đáp ứng lòng tin của đồng bào dân tộc và thể hiện chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

 

Buổi Lễ cúng bến nước thường diễn ra như một ngày hội của buôn làng Êđê. Sau hồi chiêng ngân dài như đưa ta vào thế giới tâm linh sâu thẳm và trang nghiêm, Lễ cúng bến nước được bắt đầu bằng việc lễ cúng ông bà tổ tiên để thông báo cho ông bà về sự có mặt đông đủ con cháu trong buôn làng. Khi lễ cúng cho ông bà tổ tiên kết thúc, một hồi chiêng nữa ngân lên và đó cũng là khi thầy cúng bắt đầu làm lễ cúng Yàng (Trời) cầu mưa. Kết thúc lễ cúng Yàng, những hồi chuông dài tiếp tục ngân vang, những cô gái trong trang phục truyền thống, lưng đeo gùi, cùng mọi người theo bước chân thầy cúng về bến nước đầu buôn.

 

Lễ cúng bến nước diễn ra trong không khí linh thiêng, trang trọng. Thầy cúng đọc lời khấn cầu mong Thần nước mang nước, nguồn sức sống quan trọng nhất đến cho buôn làng. Sau lễ cúng những bầu nước mát ngọt được những người con của buôn làng gùi về trong niềm vui hân hoan. Mọi người lại quây quần bên nhau uống rượu cần trong âm hưởng rộn ràng của cồng chiêng Tây Nguyên – một di sản văn hoá phi vật thể của quốc gia

___________________________________

HỘI ĐUA VOI - ĐẮK LẮK

đồng bào các tộc dọc theo dãy Trường Sơn, voi là vật quý hiếm nhất, là hiện thân của sức mạnh và sự giàu có của mỗi gia đình, mỗi buôn làng. Từ một giống vật hoang dã, khi được bắt về và thuần dưỡng, voi trở thành người bạn thân thiết với con người trong đời sống hàng ngày: vận chuyển, đi lại, làm rẫy, kéo gỗ, làm thuỷ lợi...

 

Voi là loài vật có thân hình to lớn, nhưng cũng là con vật thông minh và giàu tình nghĩa nhất trong quần thể động vật hoang dã. Sử sách xưa đã từng ghi lại nhiều mẩu chuyện về đức tính này của voi đối với người. Chuyện hai voi chiến của hai bà Trưng đã rủ nhau về bên đông Hát, nơi hai bà tự tử, rồi nhịn ăn cho đến chết. Đền thờ Voi Phục (Hà Nội) là nơi ghi lại sự tích này. Cảm động biết bao khi giữa pháp trường, con voi không chịu dày nữ tưởng Bùi Thị Xuân - người chủ của mình - đã bị Gia Long khép vào tội hình. Bà phải gọi nó, vỗ về: "Mi hãy giết ta, nếu không mi sẽ chết oan, ta tha tội cho mi". Con voi chiến cúi đầu, cong vòi, bái bà ba cái, nước mắt ràn rụa, rồi dùng vòi quấn bà tung lên cao, đưa cạp ngà nhọn đón chủ, để bà chỉ đau một lần khi chết. Sau đó, voi tìm cách phá xích chạy vào rừng sâu. Chuyện những con voi chiến trong mũi tiến công đánh đồn Ngọc Hồi của quân Tây Sơn dưới sự chủ huy của đô đốc Đặng Tiến Đông năm Ất Dậu (1789); chuyện con voi già của vua Hàm Nghi phá xích chạy vào rừng nhịn ăn cho đến chết, khi vua bị bắt v.v... là những hình ảnh đẹp về lòng trung nghĩa của con vật này.

 

Nhìn chung trong cả nước, voi tập trung nhiều nhất ở tỉnh Đắc Lắc (hơn 400 con voi nhà), trong đó huyện Ea Súp có đàn voi đông nhất. Bản Đôn là nơi quy tụ nhiều tộc người M nông, Êđê, Lào... không những nổi tiếng với đàn voi nhà hàng trăm con, mà còn là xử sở của nghề săn bắt và nuôi dạy voi từ lâu đời. Săn bắt voi là một nghề vô cùng lý thú, nhưng đầy gian lao nguy hiểm, đòi hỏi sự thông minh, lòng dũng cảm tuyệt vời và sự phản ứng nhanh nhạy của nghề thợ săn trong mọi tình huống.

 

Hội đua voi thường diễn ra vào mùa xuân, cụ thể hơn vào dịp tháng ba âm lịch, đó là tháng đẹp nhất trong năm ở đây: trời nắng dịu, đất rừng khô ráo, dọc bên các bờ sông, bờ suối, các loại hoa rừng đua nhau khoe sắc, trắng, vàng, tím, hồng... Người Tây Nguyên thường ví von đó là mùa con ong đi lấy mật, mùa con voi xuống sông uống nước; mùa em đi phát rẫy làm nương; anh vào rừng đặt bẫy gài chông.

 

Để chuẩn bị cho ngày hội, từ vài tháng trước đó, những chàng trai trong buôn cũng như những mơgát (người quản tượng) đưa voi đến những cụm rừng có nhiều cây cỏ làm thức ăn cho voi để chúng được ăn uống no nê. Họ còn bồi dưỡng thêm chuối chín, đu đủ chín, mía cây, bắp ngô, khoai lang, cám gạo và hầu như không bắt voi phải làm những việc nặng nhọc để giữ sức.

 

Đến ngày hội, những đàn voi từ các buôn làng xa gần nườm nượp kéo về buôn Đôn, tập trung ở một số bãi, hoặc cánh rừng thưa ven sông Sêrêpốc. Cùng với những đàn voi, dân chúng khắp nơi đổ về dự hội với những bộ áo quần màu sắc rực rỡ.

 

Bãi đua là một dải đất tương đối bằng phẳng (thường là khu rừng bằng, ít cây to) bề ngang đủ để 10 con voi giăng hàng đi một lúc, bề dài từ một đến hai kilômét.

 

Một hồi tù và rúc lên, đàn voi dưới sự điều khiển của những chàng mơgát lần lượt tiến vào khoảng đất bằng, dàn thành hàng ngang ngay ngắn. Nhiều con rống vang, như để báo hiệu rằng chúng sắp bước vào một cuộc thi tài quan trọng. Theo lệnh điều khiển, từng tốp voi đi vào đứng ở tuyến xuất phát. Con đầu đàn bước lên phía trước, trong tư thế uy nghi, hai chân trước đứng thẳng, ngẩng cao, quay cái vòi mấy vòng rồi cúi đầu chào khán giả hai bên, xong lại lùi vào vị trí cũ. Tiếng hoan hô cùng những tràng vỗ tay cổ vũ vang dậy, trong khi tiếng chiêng, tiếng trống dóng lên từng hồi rộn rã như thúc, như giục. Không khí trường đua lúc này lặng im, căng thẳng, mọi người hồi hộp chờ đợi. Trên mỗi con voi có hai chàng mơgát dũng mãnh, trong bộ trang phục sặc sỡ kiểu tướng lĩnh ngày xưa đang trong tư thế sẵn sàng chờ lệnh. Một tiếng tù và rúc to báo lệnh xuất phát.

 

Những chiếc chân voi to như cây cột nhà, thường ngày nhấc lên từng bước ung dung, uể oải, thẳng tuột, đột nhiên bật lên như những chiếc lò xo phóng về phía trước trong tiếng hò reo, la hét của khán giả cùng tiếng chiêng, tiếng trống âm vang cả núi rừng. Chàng mơgát ngồi phía trước đầu voi cúi rạp mình, ngẩng đầu quan sát và điều khiển voi bằng một thanh sắt nhọn dài độ một mét gọi là kreo (tiếng M nông là gậy điều khiển) dùng để đâm mạnh vào da, thúc voi tăng tốc độ, còn anh chàng mơgát thứ hai ngồi ở phía sau thì dùng chiếc búa gỗ kốc nện mạnh vào mông voi để voi chạy nhanh và thẳng đường. Trên đường đua, bụi đất, lá cây khô bốc lên, tiếng gió rít, tiếng cành lá bị va quật xen lẫn với tiếng rậm rịch của những bước chân voi...

 

Khi bóng dáng chàng mơgát ngồi trên lưng chú voi đi đầu vừa xuất hiện từ xa trong vòng quay trở về đích, thì tiếng reo hò của khán giả vang lên như sấm. Tiếng trống, tiếng chiêng giục giã liên hồi. Tiếp theo là tiếng hoan hô những người thắng cuộc. Những chú voi được giải, giơ cao chiếc vòi vẫy chào mọi người, rồi ngoan ngoãn bước đi ung dung, đôi tai phe phẩy, mắt lim dim đưa vòi nhận những khúc mía màu tím hay ống đường của bà con các nơi mang đến ủng hộ.

 

Cuộc đua voi kết thúc, những chú voi dự thi lần lượt trở lại các buôn làng xa xôi, mang theo tiếng hát, lời ca và không khí rộn ràng của ngày hội, khi về buôn làng, lại một lần nữa được dân chúng kéo nhau ra tận đầu buôn để hân hoắm chào đón, thưởng quà như những người chiến thắng. Thường thường những con voi thắng cuộc vẫn thuộc về buôn Đôn, một buôn của người M nông có nhiều voi nhất và có truyền thống chăm sóc, huấn luyện voi giỏi nhất trong vùng.

 

Ngày hội đua voi là ngày vui lớn ở Tây Nguyên, nó phản ánh tinh thần thượng võ của người M nông, một dân tộc giàu đức tính dũng cảm, đã từng quen với tốc độ, từng đối diện với bao tình huống hiểm nguy căng thẳng trong những cuộc săn bắt voi rừng. Chính cái khung cảnh hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên - nơi diễn ra cuộc đua đặc sắc - đã làm tăng lên bội phần chất hùng tráng của ngày hội cổ truyền của họ.

 

Nguồn: saigontoserco

___________________________________

Đắk Lắk: Sưu tầm, phát huy 76 lễ hội truyền thống

Lê hội truyền thồng dân tộc Ê ĐêDu lịch Đắk Lắk - Nhằm góp phần tuyên truyền, giáo dục cho đồng bào gìn giữ, phát huy, bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao mức hưởng thụ văn hóa, tỉnh Đắk Lắk đã sưu tầm, kế thừa, phát huy 76 lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Êđê, M’nông và các lễ hội lịch sử cách mạng.

Các lễ hội của đồng bào Êđê, M’nông hàng năm đều được tỉnh tổ chức để đồng bào vui chơi giải trí, học tập trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau về lao động sản xuất, xóa nghèo vươn lên làm giàu chính đáng. 

Các công ty du lịch cũng đã phối hợp với các buôn làng gần các điểm du lịch thường xuyên tổ chức phục dựng các lễ hội truyền thống để khách tham quan, tăng thêm thu nhập cho đồng bào. 

Tháng 3 hàng năm, tỉnh Đắk Lắk đều tổ chức lễ hội đua voi, phục dựng các lễ hội truyền thống khác như đâm trâu, ăn cơm mới, cồng chiêng… tại khu du lịch Buôn Đôn (huyện Buôn Đôn) thu hút đông đảo khách du lịch trong, ngoài tỉnh. 

Thông qua các lễ hội, tỉnh cũng khai thác, phát huy tốt văn hóa dân gian, các trường ca, sử thi, các làn điệu dân ca, dân vũ, diễn tấu cồng chiêng, các loại nhạc cụ khác của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa. 

Tỉnh đã khôi phục, phát huy các thể loại múa của đồng bào dân tộc Êđê như tung khắc, tắp knia, chim gru, các làn điệu dân ca như Ar ray, amoi, Kyaw, riu yang, chốc; khôi phục điệu múa của đồng bào dân tộc M’nông như Kroong Kor, các làn điệu dân ca như Tăm ndring, ngơi brah, mpro….

Tỉnh Đắk Lắk cũng đã phối hợp với các nhà xuất bản, các viện nghiên cứu sưu tầm, biên soạn, xuất bản nhiều đầu sách song ngữ Việt- Êđê giới thiệu các nghi lễ, lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa.

Nguồn: dulichviet.info/

Chủ đề: Lễ hội miền Trung | Lượt xem: 341 | Đăng bởi: hoangtu_bongdem2912_86 | Đánh giá: 0.0/0
Total comments: 0
Chỉ thành viên mới có thể thêm ý kiến.
[ Đăng ký | Đăng nhập ]
 
Trang chủ | Lý lịch! | Ghi danh | Đăng xuất | Đăng nhập 

Website được phát triển bởi các thành viên lớp 08cvhh - Khoa Ngữ Văn - Trường đại học Sư Phạm Đà Nẵng

== Website bắt đầu hoạt động từ ngày 01 tháng 5 năm 2011==