LỄ HỘI NINH BÌNH - 19 May 2011 - 08 văn hóa học - Đại học Sư Phạm Đà Nẵng


Chào mừng Các bạn đã ghé thăm Website của tập thể lớp chúng tôi vào Thứ 6, ngày 09/12/2016, lúc 0:14 AM. Chúc bạn tìm được những điều bạn cần trên Website của lớp chúng tôi. Nếu Bạn muốn Download tài liệu thì xin vui lòng đăng nhập để thấy linhk, nếu có thắc mắc gì xin vui lòng liên hệ với Quản trị Website theo số điện thoại: 0985639026 hoặc Email: chinh08cvhh@gmail.com. Xin chân thành cảm ơn các bạn.
Trang chủ » 2011 » Tháng 05 » 19 » LỄ HỘI NINH BÌNH
10:16 PM
LỄ HỘI NINH BÌNH

LỄ HỘI TRƯỜNG YÊN - NINH BÌNH

Đối tượng suy tôn: Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành. 
Thời gian: 9 - 11/3 (âm lịch). Chính hội 10/3. 
Địa điểm: Xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, Ninh Bình. 
Đặc điểm: Lễ rước nước và trò diễn cờ lau tập trận, kéo chữ.

 

Hội Trường Yên diễn ra hàng năm vào đầu tháng ba âm lịch, chính hội ngày mồng 10 tháng ba, tại mảnh đất cố đô Hoa Lư của nước Đại Cồ Việt xa xưa - nơi có đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành. Tương truyền, ngày 10/3 là ngày vua Đinh lên ngôi Hoàng đế.

 

Vào giờ phút thiêng liêng trong ngày 10 tháng 3, đoàn rước nước khởi hành từ đền vua Đinh Tiên Hoàng, đi đầu là cờ ngũ hành, cờ hành thuỷ (màu đen) đi giữa, sau đến đoàn múa rồng biểu hiện cho ý thức cầu nước và là biểu tượng vật thiêng (rồng vàng) từng cứu Đinh Tiên Hoàng thuở hàn vi; rồi tới phường bát âm đi hàng đôi, tiếp theo đến kiệu long đình do bốn chàng trai khiêng, trên đặt một cái choé để đựng nước Thánh, đoàn rước tiến về phía sông Hoàng Long.

 

Khi đoàn rước đến sông Hoàng Long, xuống thuyền. Đoàn rước có một thuyền rồng (thuyền chính) chèo ra giữa sông làm lễ, sau đó thả đồ vàng mã và đồ lễ xuống sông tạ ơn Hà Bá. Tiếp đó người chủ tế thả một chiếc vòng tròn vải đỏ xuống dòng sông, nước được múc từ trong vòng tròn này, đổ vào choé qua một lớp vải đỏ trên miệng. Nước trong vòng tròn vải đỏ là được lọc qua lớp vải sẽ càng tinh khiết hơn. Khi nước đã đầy choé, các thuyền tản ra, quay mũi về bến, riêng thuyền rước choé nước còn quay sang bên trái rồi mới trở lại bến cũ và tiếp tục cuộc rước nước về đền.

 

Lễ tế diễn ra vào ban đêm cùng lúc ở hai đền vua Đinh và đền vua Lê. Bài văn tế chia thành chín đoạn (cửu khúc). Sau khi chủ tế xướng xong một đoạn có hai người phường nhà trò (một nam - đàn; một nữ - hát) diễn giải lại nội dung đoạn văn tế bằng điệu ca trù. Kết thúc lễ tế, khách hành hương trảy hội vào điện thờ ở hai đền dâng hương làm lễ và chiêm bái di tích.

 

Khách trảy hội có thể tham dự các trò vui, cuộc đấu như: võ, vật, đua thuyền, đu bay, hát chầu văn, bình thơ, thi thơ, trò kéo chữ, múa gậy, múa rồng, múa lân hoặc chơi cờ người...

 

Độc đáo nhất của hội Trường Yên là trò "Cờ lau tập trận", diễn lại sự tích quãng đời chăn trâu thuở nhỏ của Đinh Bộ Lĩnh trên đất Trường Yên.

 

Mùa xuân trẩy hội Trường Yên cũng là dịp du khách đi thăm di tích đền vua Đinh, đền vua Lê, thăm lăng vua Đinh trên đỉnh núi Mã Yên, độ cao khoảng 150m, tưởng nhớ về nguồn cội, tổ tiên - một vùng đất "địa linh nhân kiệt”.

______________________________________________

LỄ HỘI CỐ ĐÔ HOA LƯ - NINH BÌNH

Lễ hội Cố đô Hoa Lư: Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa lư – (xưa thường gọi là hội Trường Yên, hay hội Cờ Lau) diễn ra vào các ngày 6,7,8 tháng 3 âm lịch hàng năm. Sử sách cho biết: Trong nhiều triều đại phong kiến, lễ hội Trường Yên là một quốc lễ, vì đây là nơi, là dịp tưởng niệm các vị hoàng đế, anh hùng dân tộc: Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành. 
Về dự lễ hội Cố đô Hoa Lư, các thế hệ công dân của nước Đại Cồ Việt xưa và nước Việt Nam ngày nay cùng tiếp nối, khơi thêm dòng chảy của lịch sử cộng đồng dân tộc từ hàng nghìn năm trước với sứ mệnh: dựng nước, giữ nước, chấn hưng, phát triển và tự chủ. 
Lễ hội Cố đô Hoa Lư đã được bắt đầu ngay khi nhà Lý dời đô về Thăng Long – Và trên nền móng của cung điện Hoa Lư, hai ngôi đền thờ vua Đinh và vua Lê được tạo dựng. Để có được một hình thức lễ hội như hiện nay là cả một quá trình mà trong đó hoà quyện những sự kiện lịch sử và truyền thuyết dân gian. Hình thức của lễ hội gồm có: Lễ rước nước, Lễ dâng hương, Lễ rước lửa, Tập trận cờ lau, Tế nữ quan, Kéo chữ, múa rồng lân, thổi cơm thi và những tiết mục biểu diễn, thi đấu quen thuộc đối với nhiều lễ hội truyền thống dân gian khác. 
Vào buổi sáng ngày khai hội hàng năm thường diễn ra Lễ rước nước. Cuộc rước này được chuẩn bị khá công phu, kỹ lưỡng. Từ nhiều hôm trước ngày khai hội, người ta "trồng” ở sông Hoàng Long (gần cửa Đại Hoàng xưa) một cây tre lớn cành lá xanh tốt. Trên ngọn tre có treo một dải phướn màu vàng, ghi lời chú. Nội dung những lời chú đại lược là Thần dân, con cháu trăm họ luôn nhớ ơn rồng vàng ở sông này đãcứu giúp vị Hoàng Đế nước Đại Việt – sau dựng nên cơ nghiệp nhà Đinh, dẹp được loạn sứ quân cát cứ, thu giang san về một mối; Cầu mong thần Sông giữ cho dòng nước mát hiền hoà, phù trợ cho dân nước Đại Việt tránh mọi điều ác dữ… 
Giờ thìn ngày khai hội, khi mặt trời sắp ló lên khỏi đỉnh Mã Yên Sơn, đoàn rước nước khởi hành từ đền Vua Đinh. Dẫn đầu là những người mang cờ ngũ sắc các loại, đi hàng đôi. Kế tiếp là phường nhạc bát âm và cả một phường trống. 
Tiếp đến là một kiệu bát cống lớn, trên kiệu có hương án, bên trong đặt một bình sứ, ngoài phủ vải điều do tám nam thanh niên khoẻ mạnh khiêng. Trang phục của họ tựa như lính túc vệ nhà Đinh xưa, áo đỏ, vàng, tay áo cộc, cổ áo viền xanh có thêu hoạ tiết lối cổ, đầu chít khăn đỏ, vàng theo lối "thủ rìu”. 
Ngay sau kiệu rước này là các vị quan khách, đại biểu các cơ quan, đoàn thể, địa phương. Rồi tiếp đến là những kiệu bát cống có tán, lọng song hành trên vai các trinh nữ, mang các lễ vật. Đi bên mỗi kiệu là một bô lão vận trang phục "thượng đẳng thần”. Lại có cả một vị trong trang phục hoàng đế – thiên tử đi rước nguồn nước quý để cuộc rước thêm ý nghĩa tối thượng, tối linh. Đoàn người đi sau chỉnh tề hình khối là các bô lão, những đội tế nữ quan của nhiều địa phương xa gần, đủ sắc màu, nghiêm trang, háo hức. 
Đoàn rước ra đến bến sông Hoàng Long thì hương án có đặt bình sứ được đưa xuống thuyền nan trước tiên, sau đó là rồng vàng, sư tử... Vị chủ tế trịnh trọng đọc bản sớ trình xin rước nước, bốn trinh nữ vận áo tân thời, đầu vấn khăn xếp nhẹ nhàng thanh thoát múc nước sông thiêng đổ vào bình sứ, để đưa về đền Vua Đinh làm lễ dâng hương. 
Vị chủ tế cùng các vị "quần thần” đốt tờ sớ trình thả xuống dòng sông. Trống chiêng vang lên cấp tập. Đoàn rước lên bờ, trở về đền Vua Đinh theo thứ tự lúc khởi hành. 
Cuộc rước nước truyền thống ở lễ hội Cố đô Hoa Lư hàng năm biểu hiện mối liên hệ mật thiết, hữu cơ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của cả cộng đồng, bao hàm những yếu tố: linh khí núi sông, tâm thức dân gian về cội nguồn đất nước, dân tộc theo đạo lý "Uống nước nhớ nguồn”. 
Đã ngót một nghìn năm, kể từ khi kinh đô Hoa Lư trở thành Cố đô, phong sương, hoài niệm, những âm thanh của trống hội Thăng Long vẫn luôn cộng hưởng, hùng tráng, khoan nhặt cùng tiếng trống rước nước ở Hoa Lư để hướng về cội nguồn, thêm đậm đà bản sắc dân tộc. (internet)

______________________________________________

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG NINH BÌNH

Lễ hội truyền thống Ninh Bình: Cứ mỗi độ xuân đến hay thu về, sau những ngày lao động vất vả, mệt nhọc, sau những lo toan của cuộc sống thường ngày, những người dân quê hương Ninh Bình thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, lại nô nức, tưng bừng đi trẩy hội . 
Đây là dịp để đất trời và con người được cùng giao hoà, là dịp tế lễ các vị thần linh, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, là dịp tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, các vị thành hoàng làng đã có công dựng làng, lập ấp, dạy nghề mang lại cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho dân làng. Đây cũng là dịp diễn ra các sinh hoạt văn hoá mang đậm phong tục tập quán của người dân Ninh Bình. Dịp để những trai tài gái sắc cùng tham gia các trò chơi, thi thố tài năng như thi thư pháp, thi kéo co, đấu vật, nấu cơm, làm bánh... 
Du khách hãy một lần đến với Ninh Bình để cảm nhận hết cái tinh tuý, cái độc đáo riêng có được ẩn hiện trong không khí hư hư thực thực của các lễ hội truyền thống vùng đất giàu tiềm năng du lịch này. (internet)

______________________________________________

LỄ HỘI ĐỀN THÁI VI - NINH BÌNH

Lễ hội đền Thái Vi: Đền Thái Vi ở thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Đền thờ 4 vị vua đời Trần là Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Hiển Từ Hoàng Thái Hậu. 
Lễ hội đền Thái Vi hàng năm được mở từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 3 âm lịch để tưởng nhớ các vị vua trên. Đặc biêt là vua Trần Thái Tông, người đã về chiêu dân, lập ấp, xây dựng căn cứ địa Văn Lâm, làm hậu cứ để chống giặc Nguyên Mông lần thứ 2 vào năm 1285. 
Phần lễ gồm có rước kiệu và tế lễ: Đi đầu là hai người khênh một trống cái to và một người mặc áo thụng, đội mũ cánh chuồn, đi hia, làm thủ hiệu trống; Tiếp đến là 5 người vác cờ ngũ hành, sau đó đến kiệu bát cống, trên đặt bài vị các vua Trần Hoàng hậu, Công chúa đồng thời bày hương hoa, lễ vật, kiệu có lọng đỏ che. 
Tiếp đến là kiệu 4 người khiêng, trên có bày hương hoa, xôi, thịt, oản...Sau đó là phường bát âm, ban tế có chủ tế dẫn đầu, mặc phẩm phục, đi hàng đôi. Sau khi rước kiệu đến phần tế là nghi thức quan trọng nhất của hội được tiến hành trên sân, trước đền Thái Vi, ban tế từ 15 đến 20 người, có một chủ tế, 2 ông bồi tế, 1 ông đọc văn tế, 2 ông xướng tế và mỗi bên có 5 đến 7 ông tiến hương, tiến tửu. 
Phần hội là phần tổ chức các trò chơi, giải trí, múa rồng, múa lân, đánh cờ người, đấu vật, bơi thuyền... (internet)

______________________________________________

LỄ HỘI CHÙA BÁI ĐÍNH - NINH BÌNH

Lễ hội chùa Bái Đính: Hội được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng giêng hàng năm tại thôn Sinh Dược xã Gia Sinh, Huyện Gia Viễn. Cũng như các lễ hội khác, hội gồm có hai phần là phần lễ và phần hội. 
Phần lễ thường tổ chức dâng hương, tưởng nhớ các các vị anh hùng đã có công với nước với dân. 
Phần hội kéo dài từ 3 đến 5 ngày, tổ chức các trò chơi dân gian như: đánh cờ, đấu vật...

 

Lễ hội chùa Bái Đính năm 2009.
Mùa xuân mới tràn về cũng là lúc trên đất Cố đô Hoa Lư, hàng triệu phật tử cả nước cùng du khách khắp thập phương lại nô nức trẩy hội chùa Bái Đính.

Chùa Bái Đính là một quần thể chùa nằm trên núi Bái Đính, xã Gia Sinh (Gia Viễn). Quần thể chùa này gồm một khu chùa cổ và một khu chùa mới được xây dựng từ năm 2003. Chùa Bái Đính thuộc Khu di tích lịch sử cố đô Hoa Lư, với nhiều kỷ lục được xác lâp bởi Trung tâm kỷ lục Việt Nam như: Khu chùa rộng nhất Việt Nam (107ha); Tượng phật bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á (Tượng Phật Tổ Như Lai nặng 100 tấn, ba pho Tam Thế, mỗi pho nặng 50 tấn); hai quả chuông lớn nhất Đông Nam Á (36 và 27 tấn); chùa có nhiều tượng La Hán lớn nhất Việt Nam (500 vị bằng đá xanh cao khoảng 2m); Khu chùa có giếng lớn nhất Việt Nam; số cây bồ đề nhiều nhất Việt Nam (100 cây bồ đề được chiết từ cây bồ đề Ấn Độ)...

500 vị La Hán bằng đá xanh cao khoảng 2m.
Ngày mồng sáu tháng giêng là ngày khai hội. Lễ hội trước kia chỉ kéo dài đến 1 tuần. Nay với sự quan tâm đầu tư cả nhà nước, khu chùa được mở rộng trở thành khu văn hóa tâm linh tầm cỡ, to đẹp và nổi tiếng, nên lễ hội chùa Bái Đính sẽ diễn ra trong suốt mùa xuân. Trước ngày mở hội và ngay cả trong thời gian đón tết, tất cả các động, chùa trên Khu núi Bái Đính đều khói hương nghi ngút, không khí lễ hội bao trùm cả vùng quê chiêm trũng vốn thanh bình yên ả.

Phần lễ ở chùa Bái Đính diễn ra tương đối trang trọng vì ở đây không chỉ thờ các vị Sơn thần, Phật tổ, Bà chúa Thượng ngàn mà còn gắn với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc với các danh nhân đức Thánh Nguyễn, Quang Trung, Đinh Bộ Lĩnh. Vì vậy, phần lễ gồm tổng hòa hệ thống tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam; có sự sùng bái tự nhiên, có Đạo, có Phật và có cả Nho. Ngày hội, làng tổ chức rước thần từ động ra. Cờ trống đi trước, dàn nhạc bát âm kéo theo, trai thanh gái lịch phù kiệu, cụ ông cụ bà thành tâm tiễn thần, trang nghiêm mà sảng khoái.
Trong suốt những ngày hội là sự nồng nhiệt của tuổi trẻ, là sự thành kính của các bậc cao niên, sự hoan hỷ mà các du khách, phật tử  ai ai cũng có phần riêng của mình. Cả ở những triền núi thấp cao, những rừng cây, rừng thuốc… là tấp nập, rộn ràng những đoàn người trẩy hội. Người đi ra đi vào, người đi lên đi xuống... tất cả đều hồ hởi, phấn khởi. Và khi họ gặp nhau, dù quen hay không quen cũng vui vẻ chào nhau bằng một lời chào: "Nam mô a di đà Phật" nhẹ nhàng, đằm thắm và ấm áp…

Núi Bái Đính đứng độc lập, sừng sững giữa vùng bán sơn địa, được tạo thành bởi hai dãy núi khép lại hình cánh cung và hướng về phía tây - tựa như tay ngai, mở ra một thung lũng rộng hơn 3 ha - gọi là Thung Chùa. Lên thăm hang động ở núi Bái Đính, du khách bước trên 300 bậc đá, càng lên cao không khí càng trong lành và thoáng mát, cảm thấy mọi lo toan trong cuộc sống đời thường dường như bị quên lãng. Giữa đường lên động có Hang Voi phục ở bên phải, hang thờ Đức Ông Mặt Đỏ, là người canh giữ khu chùa Bái Đính. 

Theo lộ trình, du khách lên hết dốc là tới ngã ba: Bên phải là động thờ Phật, bên trái là động thờ Tiên. Bước khoảng vài chục bước chân, du khách sẽ phải sửng sốt đến kinh ngạc trước Động thờ Phật. Phía trên cửa động có 4 chữ đại tự khắc trên đá, có nghĩa là: "Lưu Danh Thơm Cảnh Đẹp”. Với sự hiện diện của các pho tượng uy nghiêm ẩn, hiện trong làn hương trầm đang lưu chuyển ở nơi động cao, du khách cảm nhận như lạc vào cõi tiên với những suy nghĩ kỳ bí, huyền diệu.

Ba pho Tam Thế, mỗi pho nặng 50 tấn, dát vàng rất đẹp.

Cắm hương nhang, niệm điều tâm phúc xong, du khách đi tiếp theo ngách đá bên trái cuối động sẽ dẫn tới một hang nhỏ hơn, đó là hang thờ Thần Cao Sơn - một vị tướng tài của Vua Hùng. Nếu du khách bước tiếp sẽ tới một cửa hang sáng và rộng, một thung lũng xanh hiện ra. Tương truyền rằng đây là nơi có nhiều cây thuốc quý mà Thánh Nguyễn Minh Không thường xuống hái lượm mang về chế thuốc tiên. Hiện nay lá thuốc vẫn được người dân địa phương sử dụng làm dược liệu.

Trở lại ngã ba đầu dốc, du khách theo đường rẽ trái khoảng 50m là tới Động Tiên. Động Tiên lớn hơn động Phật nhiều lần, gồm 7 "buồng”,  tức là 7 hang, có hang trên cao, có hang ở dưới sâu, các hang đều thông nhau qua nhiều ngách đá, có hang nền bằng phẳng, có hang nền trũng xuống như lòng chảo, có hang trần bằng, có hang được tạo hoá ban tặng cho một trần nhũ đá rủ xuống muôn hình vạn trạng lung linh huyền ảo.

Bà Chúa Thượng Ngàn được đặt thờ giữa hang chính với các tượng bằng đá được sơn son thiếp vàng. Xung quanh Chúa Thượng ngàn là rừng nhũ, rừng hoa nhũ đá đẹp mê hồn. Bằng sự tưởng tượng tinh tế, với một cái nhìn xa rộng, du khách có thể dễ dàng đặt tên cho từng cây nhũ, mỏm đá ở Động Tiên này. Mỗi nhũ đá, mỗi hòn đá trong Động Tiên là một kiệt tác của tạo hoá, là một tinh hoa của thời gian trên đá, và chỉ có "nước chảy, đá mòn” hàng ngàn vạn năm mới tạo nên những điều kì diệu đó.

Du khách đến lễ hội chùa Bái Đính sẽ cảm nhận được tình yêu thiên nhiên trong ngày hội lịch sử để từ đó hướng về quá khứ dựng nước của cha ông ở một làng quê chiêm trũng. Leo núi chơi hang, chơi động lý thú, được cùng du khách  tham gia và hưởng ứng, vì vậy mà leo núi Bái Đính dẫu có mệt, nhưng có cảnh có người và có không khí của ngày hội nên ai cũng cảm thấy thích thú với cuộc chơi sông núi của mình.

Cuộc hành hương về chùa Bái Đính tạo ra trong con người tâm lý kỳ vọng, muốn vươn đến cái đẹp, cái thiện. Và sự kỳ vọng cái đẹp sẽ làm cho chúng ta thêm phần sảng khoái, thêm tin yêu cuộc đời này hơn, mỗi người sẽ tìm thấy sự thanh thản trong tâm hồn và hướng đến cái thiện. Các hoạt động trong những ngày lễ hội diễn ra sôi nổi với đấu vật, ném còn, đánh bài, kéo co, các trò chơi dân gian ngày Tết được đông đảo du khách hưởng ứng, diễn ra nhộn nhịp, sôi nổi.

Hạnh Chi-Thế Minh

______________________________________________

LỄ HỘI BÁO BẢN NỘN KHÊ - NINH BÌNH

Lễ hội báo bản Nộn Khê: Làng Nộn Khê thuộc xã Yên Từ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Theo tụclệ cổ truyền, hàng năm vào ngày 14 tháng giêng âm lịch, làng tổ chức lễ hội báo bản. 
Làng có tên là Nộn Khê vì vào thời Lê Thánh Tông (1470 – 1497) một số người từ đất Nộn Nam Châu (nay thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam), di chuyển vào vùng đất bồi ven đê Hồng Đức, lập ấp, đặt tên làng là Nộn Khê để ghi nhớ quê cũ Lục Nộn và Côi Khê. "Nộn” là non trẻ, "Khê” là khe suối. Nộn Khê nghĩa là dòng suối mới khai dòng. 
Hội báo bản có nghĩa là hội báo đáp lại nguồn gốc, công ơn của tiền nhân theo ý nghĩa: "Uống nước nhớ nguồn”. Bởi vậy dù đi đâu, ở đâu, cứ đến ngày 14 tháng giêng âm lịch, ngày hội làng, là con cháu của làng đều cố gắng về dự hội. 
Dân làng không chỉ dâng hương tưởng nhớ các bậc tiên hiền, khai hoang lập ấp, mà còn dâng hương tưởng nhớ, biết ơn các liệt sĩ con em của làng đã hy sinh anh dũng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc. 
Lễ hội báo bản Nộn Khê còn gắn kết nét sinh hoạt văn hoá hết sức độc đáo, đây là dịp trình diễn các tiết mục thơ ca do chính những người dân trong làng sáng tác. 
Những con em quê hương đi xa không về được, có thể gửi thơ về và cũng được ban tổ chức bố trí người ngâm hoặc chuyển thể thành các làn điệu dân ca để hát. Đêm thơ này thường được tổ chức vào đêm ngày 13 tháng giêng gọi là "Dạ hội văn nghệ” để đến ngày hôm sau, ngày 14 tháng giêng là các hoạt động lễ hội sôi động như rước kiệu, múa rồng, múa lân, múa sư tử, đánh cờ, võ vật, tổ tôm và các hoạt động thể dục, thể thao... (internet)

______________________________________________

LỄ HỘI ĐỀN LA - NINH BÌNH

Lễ hội đền La: Lễ hội đền La ở thôn La Phù, xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, tưởng nhớ hai vị Vua thời Hậu Trần là Giản Định Đế và Trùng Quang Đế, lễ hội được mở từ ngày 13 đến ngày 15 tháng giêng âm lịch. 
Ngày hội có rước kiệu quanh đền, sau đó lễ dâng hương, đọc văn tế. Hội có nhiều trò vui chơi như đánh đu, kéo chữ, đánh cờ và múa hát. Hội còn có tục lệ dâng "Xôi Vựng”. Loại xôi này phải chọn gạo nếp thật trắng và thơm, các làng dự thi xôi và làm cỗ cúng. Gạo nếp được vo ở nước giếng đặc biệt của thôn Thượng Phường gọi là giếng Me, các thôn khác phải cử người về giếng Me của thôn Thượng Phường từ ngày hôm trước để xin nước ngâm gạo. Người dân nơi đây cho rằng nước giếng Me trong suốt, tinh khiết, nấu xôi rất dẻo và thơm để tế thánh thể hiện tấm lòng thành kính của người dân nơi đây. (internet)

______________________________________________

LỄ HỘI LÀNG YÊN VỆ - NINH BÌNH

Lễ hội làng Yên Vệ: Yên Vệ thuộc xã Khánh Phú, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Nơi có đền thượng và chùa Phúc Long, là một quần thể kiến trúc có giá trị về lịch sử và văn hoá. 
Chùa Phúc Long thờ phật và thờ Tiên thiên Thánh Mẫu, mẹ của Giác Hải thiền sư. Đền Thượng thờ tam thánh: Giác Hải, Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không. 
Lễ hội hàng năm được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng giêng là ngày giỗ của Giác Hải, sau khi tế thánh có thi đấu vật. 
Sân đấu vật ở trước cửa đền Thượng, rộng 60 m2, được cày bừa tơi, kỹ từ trước tết, xung quanh đóng dóng tre vuông vức. Phía tây sân, một bên giành cho các vị tiên chỉ và quan viên ngồi. Phía đối diện giành cho các vị bô lão trong làng xã và quan khách. Vị giám khảo ngồi ở vị trí thích hợp. Bên cạnh sân, trước đền được trồng 3 cây nêu có dải phướn đỏ, cao thấp khác nhau tượng trưng cho 3 ngôi thứ. Sau khi tế thánh, các đô vật đăng ký giải nào thì đứng vào vị trí ấy. Các đô vật vào sân đấu, lên "se đài”, "cuốn chỉ” và lên "sới” để giễu võ dương oai, thể hiện ý chí quyết thắng và tinh thần thượng võ. (internet)

Nguồn: saigontoserco

Chủ đề: Lễ hội miền Bắc | Lượt xem: 337 | Đăng bởi: hoangtu_bongdem2912_86 | Đánh giá: 0.0/0
Total comments: 0
Chỉ thành viên mới có thể thêm ý kiến.
[ Đăng ký | Đăng nhập ]
 
Trang chủ | Lý lịch! | Ghi danh | Đăng xuất | Đăng nhập 

Website được phát triển bởi các thành viên lớp 08cvhh - Khoa Ngữ Văn - Trường đại học Sư Phạm Đà Nẵng

== Website bắt đầu hoạt động từ ngày 01 tháng 5 năm 2011==