Lễ hội Quảng Ngãi 4 - 20 May 2011 - 08 văn hóa học - Đại học Sư Phạm Đà Nẵng


Chào mừng Các bạn đã ghé thăm Website của tập thể lớp chúng tôi vào CN, ngày 11/12/2016, lúc 2:26 AM. Chúc bạn tìm được những điều bạn cần trên Website của lớp chúng tôi. Nếu Bạn muốn Download tài liệu thì xin vui lòng đăng nhập để thấy linhk, nếu có thắc mắc gì xin vui lòng liên hệ với Quản trị Website theo số điện thoại: 0985639026 hoặc Email: chinh08cvhh@gmail.com. Xin chân thành cảm ơn các bạn.
Trang chủ » 2011 » Tháng 05 » 20 » Lễ hội Quảng Ngãi 4
1:28 PM
Lễ hội Quảng Ngãi 4

1.3. TẾT NĂM MỚI CỦA NGƯỜI CA DONG

Tết năm mới của người Ca Dong, có tên gọi là Ố Krế, cũng tổ chức trong ba ngày chính, vào khoảng từ cuối tháng 10 đến cuối tháng 11 Âm lịch (tương đương tháng 12 dương lịch), tức khoảng thời gian kết thúc một chu kỳ làm lúa rẫy. Mỗi plây cũng tổ chức ăn Tết cho plây mình theo sự lựa chọn của chủ làng qua nghi thức giống như việc chọn ngày Tết của người Hrê, người Cor. Do luân phiên ăn Tết nên Tết của người Ca Dong nói riêng và Tết của người miền núi Quảng Ngãi nói chung kéo dài hàng tháng.

 

Để đón Tết, mỗi gia đình người Ca Dong đều ủ rượu cần, lo giã gạo, làm bánh, dựng nêu, chuẩn bị củi, heo, gà, săn bắt thú rừng... Ngày tết thứ nhất bắt đầu bằng việc người đàn bà chủ của gia đình lên rẫy lấy lúa pađăm về để giã làm bánh thiêng. Tùy số người trong gia đình mà người chủ trong gia đình làm bấy nhiêu chiếc bánh từ lúa pađăm. Sau khi bánh đã chín, họ làm lễ cúng thần linh (diễn ra tại cây cột thiêng gần bếp chính của ngôi nhà sàn). Mỗi người trong gia đình sẽ được ăn một chiếc bánh thiêng từ lúa pađăm. Sau lễ thức này, mọi thành viên trong gia đình lo chuẩn bị làm bánh nếp, làm heo, gà... Chủ làng, thầy cúng và đại diện các gia đình ra đầu nguồn nước để cúng thần nước, dựng nêu ở đầu nguồn nước chảy vào làng. Kết thúc lễ cúng máng nước mọi người ai về nhà nấy để cúng ông bà, thần đất đai, sông suối... Khi đã xong mọi lễ tế, các thành viên trong gia đình quây quần ăn Tết bên bếp lửa nhà sàn.

 

Sang ngày thứ hai, những người trong gia đình luân phiên đi chúc Tết và mời khách về nhà mình ăn Tết. Những người được mời đến nhà ăn Tết không phải mang theo lễ vật gì. Họ ăn uống no say và hát các làn điệu dân ca như ca lêu, ra nghế, chơi các bộ chinh năng, chinh hlênh, sáo amó, tàlía, đàn vrook, krâu, kể a moan... Buổi chiều, đại diện các tộc trưởng và chủ gia đình đến nhà chủ làng để chúc Tết, và cùng nhau đến từng nhà sàn để vui Tết với từng hộ gia đình trong plây. Các plây đã hoặc chưa tổ chức ăn Tết cũng đến chúc tụng và vui Tết với plây đang ăn Tết.

 

Buổi sáng ngày Tết thứ ba mọi người tiếp tục thăm viếng, ăn uống, cùng nhau hát múa, đánh chiêng... Khi mặt trời ngả về chiều, cũng như người Cor, người Hrê, đại diện các thành viên trong gia đình cùng chủ làng đi phát rẫy phép, và ăn cơm phép bằng ống cơm lam trên rẫy. Sau buổi phát rẫy phép, mọi người về nhà chủ làng ăn chung một bữa cơm cộng cảm. Bữa ăn này, ngoài những thứ thức ăn, thức uống mà gia đình chủ làng có, mọi thành viên trong làng có nghĩa vụ đóng góp thêm. Trong cuộc vui chung này, mọi hoạt động diễn xướng dân gian tha hồ thể hiện, như hát các làn điệu dân ca, chơi các loại nhạc cụ, kể các bài a moan... Vào dịp Tết, một số plây của người Ca Dong cũng tổ chức các cuộc thi tài bắn nỏ, kéo co, phóng lao, chạy vượt núi...

 

*

*          *

 

Nhìn chung, lễ Tết năm mới của các dân tộc ở miền núi Quảng Ngãi có nhiều điểm tương đồng, như trong công việc chuẩn bị Tết, ý nghĩa của ngày Tết, những thứ thức ăn đồ uống trong dịp Tết, cách tổ chức ăn Tết... Sự khác biệt giữa Tết của dân tộc này và dân tộc khác ở miền núi Quảng Ngãi thể hiện trong thời gian diễn ra lễ Tết, một vài lễ thức và các hình thức diễn xướng dân gian. Ngay trong từng plây, từng nóc cũng đã có ít nhiều khác biệt. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa Tết năm mới của 3 tộc người ở miền núi Quảng Ngãi là không nhiều. Giá trị lớn nhất của lễ Tết năm mới của các dân tộc miền núi là ở chỗ tạo nên sự cố kết cộng đồng, trao truyền những giá trị văn hóa tộc người.

 

Như đã nói ở trước, những miêu tả ở trên chỉ mang tính phổ quát. Ngày nay, một plây, nóc của người Hrê, Cor, Ca Dong cũng đã ăn Tết vào dịp Tết Nguyên đán, đặc biệt ở những plây, nóc sống đan xen với người Việt. Những hoạt động trong dịp Tết lẫn các thứ thức ăn, đồ uống của các plây, nóc này trong ngày Tết cũng giống như của người Việt. Vì thế việc gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của tộc người ở những plây, nóc ở miền núi Quảng Ngãi, nhất là ở những vùng đan xen với người Việt đang là vấn đề đặt ra cho nhiều ngành, nhiều cấp.

 

2. LỄ HỘI ĂN TRÂU

Cộng đồng các dân tộc ở miền núi Quảng Ngãi có các dạng thức ăn trâu: 1) Ăn trâu để cúng thần nhằm cầu mong thần linh cho tai qua, nạn khỏi, hoặc đau ốm (nếu gia đình đang gặp phải những điều đó); 2) Ăn trâu để chia của cho người chết; 3) Ăn trâu để tạ ơn thần linh phù hộ cho gia đình, làng xóm yên bình, được mùa, no đủ... Trong các dạng thức ăn trâu này, thì hai dạng thức trước chỉ mang yếu tố tín ngưỡng, không có (hoặc ít có) hành động hội, còn dạng thức thứ ba mới mang hành động hội. Trong dạng thức thứ ba cũng có hai loại khác nhau: lễ hội ăn trâu của làng và lễ hội ăn trâu của gia đình. Trong hai loại ăn trâu này thì lễ ăn trâu của gia đình phổ biến hơn. Tuy nhiên, dù của làng hay của gia đình thì trình thức của các lễ hội ăn trâu cơ bản là giống nhau. Dưới đây là những miêu tả khái quát về lễ hội ăn trâu gia đình của từng dân tộc.

 

2.1. LỄ HỘI ĂN TRÂU CỦA NGƯỜI HRÊ

Lễ hội ăn trâu của người Hrê có tên gọi là ka kapơ (kapô), thường được tổ chức vào tháng 3 - 4 Âm lịch, khi lúa rẫy lẫn lúa nước đã thu họach xong. Trong khoảng thời gian này, tùy thuộc vào điều kiện của gia đình và quẻ bói của thầy cúng mà mỗi gia đình tự chọn ngày tổ chức lễ ăn trâu riêng của gia đình mình.

 

Lễ ăn trâu của gia đình chủ yếu được tổ chức tại không gian quanh ngôi nhà sàn của gia đình (khác với lễ ăn trâu của plây được tổ chức tại một địa điểm thiêng của plây, thường là nơi đầu đường vào rừng, vào rẫy).

 

Mục đích của lễ hội ăn trâu của người Hrê là nhằm tạ ơn thần linh, thực hiện lời nguyền với thần linh về một việc gì đã được toại nguyện, và đồng thời cũng để chiêu đãi họ hàng, chứng tỏ cho cộng đồng biết là gia đình đã khá giả, no đủ.

 

Để tổ chức lễ ăn trâu, gia đình phải chuẩn bị mọi thứ, từ gạo, củi, nuôi heo, gà, nuôi trâu, hoặc chuẩn bị tiền bạc để mua trâu, bởi con trâu hiến sinh phải là con trâu khỏe mạnh, không có tì vết nào trên cơ thể. Lễ vật hiến sinh chính gồm 1 con trâu, 7 con gà, 1 - 2 con heo lớn.

 

Trình tự lễ hội ăn trâu của người Hrê bao gồm các phần chính: thời gian bước vào hội, thời gian hội và thời gian kết của hội. Thời gian bước vào hội diễn ra khoảng 5 - 6 ngày. Đây là khoảng thời gian mà mọi thành viên trong gia đình cũng như họ hàng làng xóm, chủ làng và cả thầy cúng đến giúp để chuẩn bị rượu cần (khoảng từ 15 - 20 ché), chuẩn bị mọi thứ tre, mây để làm cây nêu, đào lỗ chôn cây nêu lớn lẫn một vài cây nêu nhỏ, làm một vài đàn cúng (ở trước và sau nhà, ở đầu nguồn nước uống, ở ngã ba đường...).

 

Thời gian chính hội chỉ diễn ra trong một ngày. Bắt đầu từ mờ sáng, thầy cúng, chủ gia đình làm các lễ thức: cúng máng nước chảy vào làng (dùng để uống); cúng ở đàn cúng trước sân để gọi hồn ông bà, hồn lúa, hồn bắp, hồn trâu, hồn heo, hồn gà...về dự lễ ăn trâu; cúng thần Ma hao (thần Giận dữ); cúng ngã ba đường để gọi các ma chết sông suối, đường sá... Sau khi cúng đầy đủ các yang (thần) ở các địa điểm nói trên, thầy cúng và các thành viên trong gia đình mặc các bộ lễ phục truyền thống (chủ yếu là bằng thổ cẩm của người Hrê, ngoài ra còn có một vài bộ y phục được du nhập từ miền xuôi như áo dài, áo bà ba...), đeo các loại vòng cườm, lục lạc để làm lễ cúng cây nêu. Cây nêu (loang găng) của người Hrê thường rất đơn giản: chỉ là một cây tre cao chừng 6 - 7m, trảy sạch gai, mắt, tạo thêm một số hoa văn viền chung quanh, chừa phần ngọn lại (giống như cây nêu của người Việt). Phần đế của cây nêu có 4 khúc cây tre chôn theo dạng hình thang để đỡ gốc nêu, có buộc mây chắc chắn. Sau khi cúng thần nêu xong, người ta dắt trâu cột vào gốc nêu. Khi trâu đã bị buộc chặt, thầy cúng và các thành viên trong gia đình làm lễ cúng bên con trâu, khấn mời các vị thần: thần Voăk Tanêu, Dăk Tanêu (ông bà Giữ của), thần Voăk Plem, Dăk Plem (ông Thần hiền, bà Thần hiền), thần Vudăk (thần Trời), thần Cankiếc (thần Đất)... về ăn trâu, và phù hộ cho sức khỏe của cả gia đình (nếu là lễ ăn trâu của plây thì cho cả plây). Thầy cúng cùng những thành viên trong gia đình còn hát khóc con trâu, nói lên công lao của con trâu trong việc cày bừa, trong việc hy sinh để hiến tế thần linh. Trước khi đâm trâu, bà chủ hoặc ông chủ gia đình sẽ cho trâu ăn những ngọn cỏ cuối cùng và uống những ngụm nước cuối cùng.

 

Để biết các vị thần đã về dự lễ đông đủ và đồng ý cho đâm trâu chưa, thầy cúng xin quẻ âm dương. Nếu mọi quẻ xin âm dương đã tốt đẹp thì nghi lễ đâm trâu được chính thức bắt đầu. Đây chính là "thời điểm mạnh" (chữ dùng của Giáo sư Đinh Gia Khánh) của lễ hội ăn trâu. Đầu tiên người chủ nhà sẽ cầm ngọn giáo đâm phép vào con trâu. Khi nghi lễ đâm phép đã xong, các thanh niên khỏe mạnh trong làng tiếp tục cầm giáo mác đâm con trâu cho đến lúc con trâu ngã xuống. Có nơi người ta chỉ chọn một thanh niên thông minh, khỏe mạnh để đâm trâu. Đó là người thanh niên sau này sẽ thừa kế công việc của chủ làng.

 

Theo quan niệm phổ biến của người Hrê, khi trâu ngã xuống, nếu đầu quay về phía mặt trời mọc, bụng và mặt quay vào nhà thì tốt, còn ngươc lại là không tốt, nếu quay hướng khác, không thuộc hai hướng này, thì không tốt không xấu. Vào lúc con trâu vừa ngã xuống, thì trong nhà vang lên những hồi chiêng mừng hồn trâu đã về với thần linh trâu, và cũng là để báo cho làng xóm biết là lễ đâm trâu đã xong.

 

Trước khi xẻ thịt trâu người ta cắt mỗi bộ phận của cơ thể con trâu một miếng rất nhỏ (miệng, mắt, mũi, chân...) bỏ vào rổ đem cúng. Sau khi cắt xong mỗi bộ phận một miếng nhỏ, người ta bắt đầu xẻ trâu. Đầu trâu sẽ được giữ lại đặt trên đàn cúng dưới gốc cây nêu.

 

Cùng lúc với việc xẻ thịt trâu, thầy cúng và các thành viên trong gia đình còn thực hiện một số nghi lễ khác, như cúng trong nhà, cúng ở nguồn nước, đặc biệt, với người Hrê còn có lễ thức gọi hồn và bắt hồn của những thành viên trong gia đình ở ngã ba đường về (vì không muốn để hồn của các thành viên trong gia đình đi "lang thang" đâu đó). Lúc thầy cúng gọi hồn thì có ba người gõ chén bát. "Bắt" được hồn người nào thì thầy cúng nắm lấy đầu người đó để hồn nhập vào. Khi tất cả hồn của các thành viên trong gia đình "về đầy đủ" thì ba người lo việc gõ chén bát thôi không gõ nữa.

Dưới đây là một bài cúng trâu của người Hrê:

 

Ớ! Ông Tanêu!

Ơ! Bà Tanêu!

Ở trong cây trong cỏ

Ở trong hang trong đá

Ở trong lá trong lùm

Đã coi, đã thấy

Đã vớt, đã bao

Biết đẩy, biết xô

Biết trốn, biết giấu

Biết khiến, biết xui

Biết gây rủi ro

Biết cho đau ốm

Đau ốm không nói

Đói khát bà lo

Rủi ro bà chịu

Ớ! Ông Tanêu.

Ớ! Bà Tanêu

Ơ! Lính lớn.

Ơ! Lính nhỏ

Cầm vải cầm vóc

Cầm áo, cầm quần

Cầm khăn, cầm túi

Tới đây cho đông

Cho đủ cho mau

Tới ăn thịt trâu

Dọn nơi bếp ông

Dọn mâm bếp bà

Dọn trên chiếu hoa

Mời đủ mẹ cha

Anh em chú bác

Con cháu bạn bè

Huyết chín huyết sống

Tim gan, cổ đùi

Mắt mũi, đầu vai

Dọn đủ dọn đầy...

(bản dịch của nhà thơ Nga Ri Vê - dân tộc Hrê)

 

Thịt trâu được chế biến thành các món ăn. Có hàng lớp nồi bảy, nồi ba bằng đồng dùng để nấu các thứ thức ăn từ thịt trâu, thịt heo đặt dọc theo phía trước nhà sàn.

 

Khi thịt trâu, thịt heo đã chín, người ta lấy những bộ phận trong lòng trâu, lòng heo, mỗi thứ một ít, đặt vào hàng trăm lá cây (mỗi vị thần là một lá) trên các lớp của đàn cúng dưới gốc nêu. Thầy cúng cùng các thành viên trong gia đình gọi mời thần linh, ông bà về ăn trâu.

 

Sau nghi thức này mọi người được ăn thịt trâu, thịt heo, thịt gà. Thầy cúng và những người trong gia đình sẽ ăn trước những món ăn thiêng từ các bộ phận trong lòng các con vật hiến tế; khách khứa, họ hàng sẽ tiếp tục ăn sau các phần còn lại.

 

Khi đã ăn uống no say, người ta bắt đầu hát ca lêu, ca choi, chơi chiêng ba, và các nhạc cụ khác, kể moan... thâu đêm suốt sáng.

 

Vào ngày hôm sau, người ta bắt đầu làm lễ ăn đầu trâu. Trước khi lấy đầu trâu đặt dưới gốc cây nêu để nấu nướng, họ cũng làm lễ bên gốc cây nêu. Sau nghi lễ cúng đầu trâu, những hồi chiêng ba trong nhà lại gióng lên báo hiệu là lễ cúng đầu trâu đã xong. Đầu trâu sẽ được đem xẻ thịt chế biến thành các món luộc hoặc nướng. Ăn xong đầu trâu, mọi người lại hát ca lêu, ca choi, múa, đánh chiêng... suốt ngày suốt đêm.

 

Đến ngày hôm sau nữa (ngày thứ 3), mọi người ra ruộng, lên rẫy làm cỏ ruộng hoặc phát rẫy phép. Làm xong nghi thức này tất cả trở về nhà. Mọi thành viên trong gia đình sẽ không ra khỏi nhà trong suốt 3 ngày, và cũng không ai được đến nhà họ trong suốt 3 ngày đó. Nếu là lễ ăn trâu của làng thì làng cũng cấm kỵ trong 3 ngày sau lễ ăn trâu, không ai được ra khỏi làng và cũng không ai được vào làng. Người nào vi phạm sẽ bị phạt vạ.

 

Nói chung, lễ hội ăn trâu của người Hrê nặng phần lễ, nhưng khi thực hiện xong nghi thức lễ, hoặc trong lúc thc hiện lễ, thì phần hội được tích hợp vào, tạo thành một chỉnh thể lễ hội ăn trâu. Dầu là lễ hội ăn trâu của gia đình, nhưng nó không chỉ thu hút cả làng tham gia mà còn thu hút các làng khác đến phụ giúp và cùng ăn uống, vui chơi. Vì thế, lễ hội ăn trâu chính là lễ hội lớn nhất không chỉ của người Hrê, mà còn của các dân tộc ở miền núi Quảng Ngãi, như lễ hội ăn trâu của người Cor, người Ca Dong.

 

2.2. LỄ HỘI ĂN TRÂU CỦA NGƯỜI COR

Lễ hội ăn trâu của người Cor có tên gọi là xá kapiêu (xá = ăn; kapiêu = trâu), thường diễn ra vào tháng 3 - 4 Âm lịch. Cũng như người Hrê, thời gian chính thức diễn ra lễ ăn trâu, ngoài sự chuẩn bị của gia đình còn tùy thuộc vào quẻ bói của thầy cúng.

 

Khảo sát lễ hội ăn trâu của người Cor có thể thấy, về mục đích, ý nghĩa, các loại lễ vật, cách chọn lựa con trâu hiến tế..., thì lễ hội ăn trâu của người Cor tương tự như lễ hội ăn trâu của người Hrê. Riêng trong trình tự lễ hội, thì lễ hội ăn trâu của người Cor có nhiều khác biệt so với lễ hội ăn trâu của người Hrê. Nếu như người Hrê chỉ cần thời gian khoảng một hai ngày là có thể làm và dựng xong cây nêu thì người Cor phải mất hàng tháng trời để làm cây nêu và các gu vla, gu tum với hơn vài trăm công làm. Cây nêu dùng trong lễ ăn trâu của người Cor không phải bằng tre mà bằng gỗ, cao đến 14 - 15m, có nhiều hoa văn họa tiết tinh tế (10).

 

Thời gian chính hội của lễ hội ăn trâu của người Cor thường là 3 ngày (người Hrê thường chỉ có một ngày chính). Vào buổi chiều ngày thứ nhất, người ta làm lễ cúng thần Ma Huýt - thần cai quản nương rẫy và giữ hạt giống bằng một con heo lớn và một ché rượu to, bên hố cây nêu mới đào. Trong lúc thầy cúng khấn mời thần linh thì một người ăn mặc rách rưới đóng giả tà ma chạy quanh làng xóm. Toàn bộ những người tham gia dự lễ chạy đuổi theo với những tiếng hò la vang dậy. Khi "tà ma" đã bị "bắt" và "tà ma" đã hứa không quấy nhiễu dân làng, không phá hoại mùa màng và súc vật nữa, thì buổi lễ đuổi tà ma kết thúc. Buổi tối, mọi người trong làng quây quần bên đống củi cháy, đánh chiêng, múa cà đáo, hát xà ru, a giới... và uống rượu.

 

Bước vào ngày thứ hai, ngay từ sáng sớm mọi người bắt đầu làm lễ dựng nêu. Tham gia lễ dựng nêu có thầy cúng, những già làng, cùng đông đảo phụ nữ, thanh niên, đội chiêng và đội múa cà đáo. Sau khi thầy cúng làm lễ xin dựng nêu xong, mọi người bắt đầu dựng cây nêu. Lúc cây nêu được dựng xong thì thầy cúng và những thành viên trong gia đình lại tiếp tục thực hiện nghi lễ cúng thần cây nêu và nghi lễ vào trâu. Trong lúc thực hiện nghi lễ vào trâu, từng hồi chiêng mừng trâu và cũng là để báo cho dân làng biết trâu đã buộc vào gốc nêu để họ đến tham dự hội. Các thiếu nữ Cor ăn mặc lễ phục truyền thống, áo trắng, váy xanh, chít khăn đỏ, đầu cài tua đỏ, cổ, tay, chân đeo vòng cườm, thắt lưng đeo lục lạc, múa dịu dàng quanh con trâu và cây nêu. Các chàng trai mang khố lễ, khoác khăn choàng hòa tấu chiêng, trống. Các cô gái vừa múa, vừa lấy ống tre đựng nước thiêng ở suối hắt lên mình trâu và cây cột lễ làm phép. Sau khi nghi thức làm phép này thực hiện xong, các thành viên trong gia đình và đội múa cà đáo bắt đầu mời rượu thầy cúng, các già làng và toàn bộ những người tham dự hội. Mọi người bắt đầu múa chiêng, múa cà đáo, hát... vòng quanh con trâu và cây nêu. Cứ thế họ vừa hát xà ru, a giới, ca lu..., vừa múa, vừa uống rượu cùng con trâu và cây cột lễ đến tận nửa đêm. Từ sau nửa đêm, con trai con gái trong làng tản đi khắp nơi trò chuyện, tìm hiểu nhau, nhiều mối tình nảy nở sau đêm dự hội này.

 

Vào ngày thứ ba, lúc trời còn mờ sáng, thầy cúng và các thành viên trong gia đình mặc các bộ y phục truyền thống của người Cor tiến hành nghi lễ cúng trong nhà để mời gọi các thần linh và tổ tiên về chứng kiến lễ ăn trâu của gia đình. Đoàn người đi từ trong nhà ra sân rồi vòng quanh con trâu và cây nêu, xong lại vòng vào trong nhà, nơi có treo gu vla, gu tum. Cứ thế đến 9 lần. Cùng đi vòng với tốp người là đội chiêng trống. Khi đã xong lần thứ 9, họ bắt đầu làm lễ bên con trâu. Người chủ gia đình cho trâu ăn những ngọn cỏ đoak cuối cùng, nói với trâu những lời từ biệt và những điều ước vọng của mình về sức khỏe, hạnh phúc, để khi về với thế giới bên kia, linh hồn con trâu có thể "truyền đạt" lại với các đấng thần linh. Vì thế, trong lễ hiến sinh, con trâu vừa là vật hiến sinh, vừa là "sứ giả" của con người. Nó là chiếc cầu nối giữa con người với thánh thần. Khi thầy cúng lắc những vòng lục lạc mời gọi thần linh chứng kiến thì người đàn ông chủ gia đình bắt đầu đâm phép con trâu. Nhát đâm phép vừa xong lập tức các mũi giáo, mác của các chàng trai đâm mạnh vào bụng trâu, vai trâu, cổ trâu... cho đến khi trâu ngã xuống. Nếu trâu ngã xuống mà đầu quay về phía ngôi nhà thì đấy là điềm tốt lành cho gia đình.

 

Sau khi đâm trâu xong, cũng như người Hrê, mọi người bắt đầu cắt lấy những bộ phận của trâu, mỗi thứ một ít, để vào rổ cúng và thầy cúng cùng các thành viên trong gia đình bắt đầu tiếp tục thực hiện các nghi lễ cúng máng nước, cúng trong nhà, cúng ngã ba đường... bằng các con vật hiến sinh khác là heo, gà.

 

Trong lúc thầy cúng và các thành viên trong gia đình thực hiện các nghi lễ cúng thần, những người khác bắt đầu xẻ thịt trâu. Đầu trâu cũng được để dành trên đàn cúng. Các phần còn lại được đem nấu nướng. Cách tổ chức nấu nướng, các món ăn được chế biến từ thịt heo, thịt trâu, cách chiêu đãi họ hàng, làng xóm, cách ăn uống... của người Cor cũng giống như của người Hrê. Món ăn được nấu từ bộ lòng con trâu như gan, tim, thận... và cả huyết luôn là món cúng thần, và chỉ có người trong gia đình mới được ăn các món ăn này.

 

Hàng vài chục mâm thịt trâu, thịt heo cùng cơm lúa rẫy, rượu cần, rượu đế, bánh sẽ được dùng chiêu đãi họ hàng, khách khứa. Khi đã ăn uống no say, mọi người lại bắt đầu chơi chiêng, trống, các loại nhạc cụ truyền thống, múa hát, kể chuyện... Buổi ăn trâu thường bắt đầu khoảng giữa trưa, và kết thúc vào tận nửa đêm, và cùng với nó là những sinh hoạt văn nghệ dân gian.

 

Sang ngày thứ tư là lễ ăn đầu trâu. Mọi nghi lễ và sinh hoạt văn nghệ tương tự như ngày lễ ăn đầu trâu của người Hrê, nhưng số người tham gia ít hơn những ngày chính lễ, vì chỉ có bà con trong dòng họ và các thành viên trong gia đình tham dự.

 

Ngày hôm sau, gia đình và đại diện các gia đình tham gia ăn trâu đi phát rẫy phép. Và người Cor cũng kiêng cữ trong suốt 3 ngày sau khi lễ ăn trâu kết thúc.

 

2.3. LỄ HỘI ĂN TRÂU CỦA NGƯỜI CA DONG

Cũng giống như người Hrê, tên gọi lễ hội ăn trâu của người Ca Dong là ká kapơ (kapô). Lễ ăn trâu của người Ca Dong thường được tổ chức vào tháng 3 đến tháng 5 Âm lịch, tức vào lúc thời gian bắt đầu vào mùa rẫy mới, và cũng là lúc trái riêng klung trong rừng đã chín (tựa như trái phượng, nhưng ruột có màu trắng ngà phơi khô giống như bông), là vật liệu không thể không có để làm cây nêu.

 

Mục đích, ý nghĩa, các loại lễ vật, trình tự... của một lễ hội ăn trâu của người Ca Dong cũng tương tự như lễ hội ăn trâu của người Hrê, người Cor. Tuy nhiên, thời gian chuẩn bị của người Ca Dong không dài như người Cor, và cũng không ngắn như của người Hrê. Sở dĩ như vậy là vì, so với người Cor, để làm cây nêu, người Cor phải mất hàng tháng trời với khoảng 200 công; so với người Hrê, để làm cây nêu, người Hrê chỉ cần làm trong một ngày với chừng 3 - 4 công; còn với người Ca Dong, để làm cây nêu, người Ca Dong mất khoảng mười ngày với chừng 40 - 50 công. Cây nêu của người Ca Dong tuy không nhiều hoa văn họa tiết như cây nêu của người Cor, nhưng lại cao hơn, khoảng 20 - 25m, nhiều tầng (4 tầng), trên thân nêu lại có thêm nhiều dải hoa riêng klung, vỏ các loại cây rừng (11). Một điểm khác biệt nữa trong lễ ăn trâu của người Ca Dong so với lễ ăn trâu của người Cor, người Hrê là, nếu như lễ ăn trâu của người Cor, người Hrê, ngoài sự đóng góp công sức còn có sự đóng góp tiền của, rượu, gạo, heo gà của cộng đồng, thì trong lễ ăn trâu của người Ca Dong, cộng đồng chỉ cần đóng góp công sức mà không cần đóng góp tiền của, lễ vật, bởi mọi tiền của, lễ vật đều do chủ gia đình làm lễ lo liệu.

 

Thời gian diễn ra lễ ăn trâu của người Ca Dong là 11 ngày, trong đó chính lễ diễn ra trong 2 ngày.

 

Sáu ngày đầu là chuẩn bị rượu cần, hoàn thiện cây nêu, giã gạo, chặt nứa, đi mời bà con thân thuộc, làng bản... Cuối ngày thứ sáu bắt đầu làm lễ cúng trong nhà.

 

Ngày chính lễ mở vào ngày thứ bảy. Buổi sáng, thầy cúng và những người trong gia đình làm lễ cúng nguồn nước, cúng đầu ngõ, cúng ngã ba đường... Buổi trưa, làm lễ khai rượu cần. Buổi chiều, sau khi làm lễ gari (uống rượu phép, khai chiêng hnăng - chiêng dùng trong lễ ăn trâu), là lễ dựng cây nêu. Các nghi lễ dựng nêu tương tự như lễ dựng nêu của người Cor và người Hrê. Khi cây nêu đã dựng xong, người Ca Dong làm lễ cúng cây nêu. Trong lễ cúng cây nêu, người Ca Dong còn thực hiện nghi lễ chui vào vòng nài trâu (cầu sức khỏe). Khi thầy cúng khấn vái các vị thần cầu mong sức khỏe cho gia đình thì các thành viên trong gia đình, từ già đến trẻ, ăn mặc các loại y phục truyền thống, lần lượt chui qua vòng nài trâu. Sau lễ thức này người ta bắt đầu làm nghi thức vào trâu. Con trâu sẽ được ăn những ngọn cỏ cuối cùng trong chuồng trước khi dắt ra buộc vào cây nêu. Khi trâu đã buộc vào gốc nêu, những hồi chiêng hnăng báo hiệu là lễ vào trâu đã xong, mời mọi người tham gia hội ca cheo. Ca cheo là nghi thức hát múa, đánh chiêng hnăng, chiêng hlênh quanh con trâu và cây nêu. Hội ca cheo bắt đầu khi thầy cúng, các thành viên trong gia đình cùng những người đánh chiêng đi vòng quanh cây nêu 7 vòng theo chiều ngược kim đồng hồ. Tất cả mọi người trong làng đều có quyền tham gia hội ca cheo sau đó. Họ vừa uống rượu, vừa chơi chiêng và múa hát quanh cây nêu, đặc biệt là hát những bài ra nghế kể công lao con trâu trong việc hy sinh để hiến tế thần linh. Đến giữa đêm, thanh niên nam nữ bắt đầu tản đi các nơi tâm sự.

 

Vào mờ sáng ngày thứ tám, thầy cúng thực hiện nghi lễ của lễ panai (xin keo bằng những hạt gạo), xin thần linh cho đâm trâu. Thầy cúng và những người trong gia đình đi vòng quanh con trâu, rồi vòng vào bếp lửa 7 lần. Kết thúc lễ này, thầy cúng và người chủ gia đình làm lễ cúng con trâu.

 

Trong lễ đâm trâu của người Ca Dong còn có một thầy cúng nhỏ. Thầy cúng nhỏ là một em bé trai bất kỳ nào trong làng, được lựa chọn bằng chính quẻ bói giò gà của thầy cúng già. Thầy cúng nhỏ sẽ là người sau này "kế nghiệp" thầy cúng già. Thầy cúng nhỏ chỉ tham gia chứng kiến lễ cúng nhưng cũng được hưởng các quyền lợi như thầy cúng già, như được uống rượu phép đầu tiên, được chia phần thịt trâu mang về...

 

Khi người chủ gia đình cho con trâu ăn những cọng cỏ cuối cùng, uống những giọt nước suối cuối cùng, cắt vòng dây ước hẹn của gia đình với thần linh về lời hứa tổ chức lễ hiến sinh, cắt dây mây nối giữa con trâu với cột nhà và đâm phép vào con trâu, hàng chục mũi giáo mác của các thanh niên trong làng tiếp tục đâm con trâu cho đến khi nó ngã xuống. Cũng như người Cor, theo quan niệm của người Ca Dong, nếu con trâu quay đầu về phía ngôi nhà của gia đình đứng ra tổ chức lễ ăn trâu thì đó là điềm lành.

 

Sau khi đâm trâu xong, gia đình làm heo lớn để cúng trong nhà, làm gà cúng ngoài ngõ. Thịt trâu, thịt heo sẽ được chế biến thành thức ăn. Người Ca Dong cũng lấy mỗi bộ phận của con trâu, con heo, con gà để cúng thần, cầu mong cho sự tái sinh. Các cung đoạn cúng tế, chiêu đãi họ hàng... tiếp theo trong lễ hội ăn trâu của người Ca Dong cũng giống như của người Cor và người Hrê. Và, suốt ngày thứ tám, tất cả mọi người ăn uống, múa hát, đánh chiêng, chơi các nhạc cụ truyền thống, kể a moan...

 

Sang ngày thứ chín, gia đình bắt đầu làm lễ ca cheo gâu kapơ (cúng, múa hát, đánh chiêng quanh đầu trâu), và sau đó nấu nướng đầu trâu để ăn.

 

Vào ngày thứ mười, làm lễ tiễn thầy cúng, những người tham gia ăn trâu đi phát rẫy phép cho gia đình tổ chức lễ ăn trâu.

 

Ngày thứ mười một, tất cả các thành viên trong gia đình nghỉ ở nhà để ăn chân trâu, cấm kỵ mọi người ra khỏi nhà cũng như không ai được vào nhà.

 

Ngày thứ mười hai, tất cả mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt trở lại bình thường.

 

*

*          *

 

Như đã nói ở trước, xét trên các phương diện, từ mục đích, ý nghĩa, đến các trình thức, thì trên đại thể, lễ hội ăn trâu của người Hrê, Cor, Ca Dong giống nhau, và cũng giống với lễ ăn trâu của các dân tộc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Sự khác biệt giữa lễ hội ăn trâu của dân tộc này với dân tộc khác, ở vùng này với vùng khác, là ở các chi tiết, như thời gian và diễn trình lễ hội, một vài lễ thức, trong việc trang trí các cây nêu, trong các loại hình diễn xướng...

 

Nhìn tổng quát, có thể thấy lễ hội ăn trâu của các dân tộc miền núi Quảng Ngãi là một hình thức sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng nặng tính nghi lễ, nhiều yếu tố mê tín, nhưng lại chứa đựng những giá trị nhân văn, giá trị giáo dục, giá trị thẩm mỹ. Chính lễ hội ăn trâu là nơi trao truyền những giá trị văn hóa văn nghệ truyền thống của tộc người, tạo sự cố kết cộng đồng, cân bằng đời sống tình cảm, đời sống tâm linh. Tuy nhiên, lễ hội ăn trâu tốn kém khá nhiều tiền bạc, thời gian, công sức, vấn đề vệ sinh thực phẩm… là những nhược điểm cần nghiên cứu, khắc phục.

 

 

--------------------------------------------------------------------------------

 

(1)  Khái niệm "lễ hội cổ truyền" được dùng trong trường hợp này tương đồng với khái niệm "lễ hội dân gian".

(2)  Xem ở tiểu mục Lễ hội đua thuyền ở chương này.

(3), (4) Xem Chương XXVII: Nghệ thuật.

(5)  Đoàn Ngọc Khôi, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Đăng Vũ, Phan Đình Độ, Nguyễn Văn Bốn: Văn hóa truyền thống đảo Lý Sơn, Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quảng Ngãi xuất bản, 2002, tr. 167.

(6)  Xem thêm Chương XXVII: Nghệ thuật, tiểu mục về hát bả trạo.

(7)  Xem thêm chương Tín ngưỡng - Lễ hội, trong luận án Tiến sĩ "Văn hóa dân gian của cư dân ven biển Quảng Ngãi" của Nguyễn Đăng Vũ, Viện Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 1.2003.

(8)  Sách Đại Nam Nhất thống chí, phần về tỉnh Quảng Ngãi, có ghi chép sơ lược về ngôi đền này, và nói rằng đây là nơi thờ Thái Dương công chúa. Sách Quảng Ngãi tỉnh chí, Quảng Ngãi nhất thống chí (các tài liệu đã dẫn) đều ghi theo như vậy. Có lẽ các tác giả những cuốn sách trên đã nhầm, hoặc xem Thiên Y A Na chính là Thái Dương công chúa (chú thích của người viết chương này).

(9)  Xem Nguyễn Đăng Vũ: Văn hóa dân gian của cư dân ven biển Quảng Ngãi, sđd, phần về Lễ hội đua thuyền Lý Sơn.

(10)  Xem phần viết về cây nêu và các gu của người Cor trong Chương XXVII: Nghệ thuật, phần "Nghệ thuật tạo hình".

(11)  Xem Chương XXVII: Nghệ thuật, phần Nghệ thuật tạo hình

Chủ đề: Lễ hội miền Trung | Lượt xem: 378 | Đăng bởi: hoangtu_bongdem2912_86 | Đánh giá: 0.0/0
Total comments: 0
Chỉ thành viên mới có thể thêm ý kiến.
[ Đăng ký | Đăng nhập ]
 
Trang chủ | Lý lịch! | Ghi danh | Đăng xuất | Đăng nhập 

Website được phát triển bởi các thành viên lớp 08cvhh - Khoa Ngữ Văn - Trường đại học Sư Phạm Đà Nẵng

== Website bắt đầu hoạt động từ ngày 01 tháng 5 năm 2011==