Chào mừng Các bạn đã ghé thăm Website của tập thể lớp chúng tôi vào Thứ 6, ngày 18/08/2017, lúc 5:27 AM. Chúc bạn tìm được những điều bạn cần trên Website của lớp chúng tôi. Nếu Bạn muốn Download tài liệu thì xin vui lòng đăng nhập để thấy linhk, nếu có thắc mắc gì xin vui lòng liên hệ với Quản trị Website theo số điện thoại: 0985639026 hoặc Email: chinh08cvhh@gmail.com. Xin chân thành cảm ơn các bạn.
Trang chủ » 2011 » Tháng 05 » 21 » Phú Yên: Truyền Thuyết và Huyền Thoại Trên Vùng Đất Sông Cầu II
9:52 PM
Phú Yên: Truyền Thuyết và Huyền Thoại Trên Vùng Đất Sông Cầu II

TIẾNG KHÓC TRÊN ĐÈO CÙ MÔNG

Núi Cù Mông nằm ở phía bắc huyện Đồng Xuân và huyện Sông Cầu. Nửa núi phía bắc thuộc về địa giới huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định, trên núi có trạm Bình Phú là một trạm dịch để liên lạc, thông tin, chạy giấy tờ giữa các địa phương; Phía tây có núi Nhuệ, núi Giả và Hùng Sơn, phía đông có núi Hùng, phía bắc có núi Qui. Núi đồi trùng điệp, địa thế rất hiểm yếu. Nằm chếch lên hướng tây có núi Phú Cốc, còn có tên khác là núi Hổ có hình giống như con hổ nằm phủ phục.

 

 

 

Đèo Cù Mông  Ảnh: Internet

 

Kế cận với Cù Mông, đáng chú ý hơn cả là núi Chóp Vung nằm ở phía đông cao 676 mét, núi Ông Bai ở phía nam cao 381 mét, núi Hòn Khô ở tây-nam cao 806 mét. Gò Cà trên dãy Cù Mông có một ngôi miếu rất cổ xưa gọi là miếu Phò Giá  Đại Vương, trong miếu lại có ba ngôi tháp lớn đựng đầy xương khô.

 

Truyền thuyết "tiếng khóc” dựa trên cuộc hành trình Nam tiến gian nan vất vả và nhiều nguy hiểm, được các cụ già ở Xuân Lộc (huyện Sông Cầu, Phú Yên) và Phú Tài (bên kia chân đèo Cù Mông thuộc địa phận Bình Định) kể lại như sau:

 

Thời bấy giờ, dãy Cù Mông cao và hiểm trở. Khi đoàn lưu dân đến bên này chân núi thì nhiều người trong đoàn đã kiệt sức (do cuộc hành trình quá dài), đặc biệt là phụ nữ. Đèo cao, dốc thẳm, suối sâu khiến nhiều người sợ hãi muốn quay trở lại nhưng không biết phải trở về đâu, đành nhắm mắt đưa chân tiến về phía trước. Một chiều nọ, đoàn người tiến sát đến ngọn núi dốc đứng, ngó lên "trật ót”, liền hạ trại, nấu cơm chiều. Ăn uống xong trời tối sầm. Chung quanh văng vẳng tiếng cọp gầm, vượn hú… thật thê lương. Sau nhiều ngày hạ trại vừa nghỉ dưỡng sức vừa tìm kiếm con đường ngắn và thấp nhất để vượt qua núi hiểm, đoàn người lại tiếp tục bám lấy nhau trèo đèo, vượt dốc, nhưng hầu hết phụ nữ đều không thể vượt qua, một số phải bỏ mạng giữa núi rừng thâm u…

 

Những nấm mồ chôn cất vội vã không đủ ấm lòng người nằm xuống. Qua thời gian, mưa bão xói mòn lớp đất che phủ, xương cốt theo triền dốc trôi xuống các khe lũng dưới chân đèo. Hàng năm cứ đến mùa mưa bão, từ dưới khe sâu chân đèo vọng lên tiếng than khóc ai oán khiến khu vực này đã quạnh hiu vắng vẻ càng trở nên u tịch huyền bí hơn. Tiếng than khóc nương theo tiếng gió hú rít trên đỉnh càng bay xa, đến nỗi những người tiều phu không dám vào rừng như trước.

 

Để cho các linh hồn được siêu thoát, người dân bên kia đèo (phần đất Bình Định) cho xây một am thờ nhỏ gọi là am cô hồn. Mỗi năm cứ vào dịp Rằm tháng Giêng và tháng Bảy, các nhà sư đến tụng niệm cúng chay. Dần dà lâu sau đó, có lẽ các linh hồn cô độc đã siêu thoát, nên không còn nghe thấy tiếng khóc bi thương như trước nữa. Ngôi miếu thờ này tồn tại khá lâu, nhưng mưa nắng thời gian và chiến tranh đã xóa dần vết tích, không còn nữa

 

Như vậy với câu chuyện dân gian về "tiếng khóc” có hai chuyện được kể khác nhau về thời gian: Một là tiếng khóc trong thời điểm sau cuộc Nam tiến và một là trong cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và Chúa Nguyễn được ghi lại ở phần sau.

 

Vì là truyền thuyết, nên xin ghi lại ở đây như là những cứ liệu dân gian ở các thời kỳ khác nhau.

 

 

TRUYỀN THUYẾT GÒ CÀ VÀ VỰC LINH THIÊNG

 

 

 

Gò Cà   Ảnh: Trần Quỳ

 

Gò Cà nằm ở phía nam dãy Cù Mông thuộc địa phận xã Xuân Lộc, huyện Sông Cầu. Từ trung tâm xã Xuân Lộc, đi về phía tây khoảng trên 2 cây số có một gò đất nổi cao nằm dưới chân núi là nơi xưa kia chôn cất các chiến sĩ tử nạn thời Nam tiến.

 

Tương truyền, khi vua Lê Thánh Tông mang đại quân vào phía nam mở mang bờ cõi, và sau này là Lương Văn Chánh, Văn Phong… trong các trận giao tranh lớn nhỏ, quân sĩ hai bên tử trận đều được chôn cất tử tế, đặc biệt với quân Đại Việt đều được an táng trên núi cao, tại Gò Cà. Tại đây, quan quân và nhân dân địa phương xây dựng một ngôi miếu gọi là miếu Phò Giá  Đại Vương để thờ các binh sĩ đã hy sinh trong chiến trận. Hàng năm đều cúng tế linh đình. Thời gian trôi qua cùng mưa nắng khiến cho ngôi miếu đổ nát, làm xói lở các ngôi mộ nghĩa quân, nên sau này quan quân đưa tất cả các bộ xương vào ba ngôi tháp lớn mà thờ. Chiến tranh nối tiếp chiến tranh, khiến ngôi miếu và ba toà cổ tháp cũng không còn nữa. Hiện nay Gò Cà chỉ còn lại một bãi đất bằng phẳng, cỏ cây, bụi rậm mọc um tùm, ba ngôi tháp cổ chỉ còn phần đế móng. Theo Website của thư viện Hải Phú (http//:wwwhaiphu.com.vn) có một truyền thuyết về ngôi miếu này như sau:

 

Những năm Tây Sơn chuẩn bị khởi binh, chiêu tập nông dân quanh vùng An Khê, Bình Đinh, Vân Canh, La Hiên… vào quân cơ, chia thành đội ngũ để luyện tập theo binh pháp trong nhiều năm ròng rã. Hễ chiều buông xuống, mặt trời lặn sau những dãy núi cao phía tây, hoàng hôn bắt đầu phủ một màn đen khắp cánh rừng đại ngàn thì có một đội binh thứ hai cũng khua gươm giáo luyện tập. Tiếng hò reo, binh khí chạm nhau vang tới doanh trại của nữ tướng Bùi Thị Xuân. Nhiều đêm như vậy, bà liền bí mật đến nơi phát ra tiếng binh khí chạm nhau kia để xem xét và nhìn thấy trong bóng đêm mờ mờ, hàng hàng đội ngũ binh sĩ tiến lui nhịp nhàng theo tiếng trống trận, đến canh ba là chấm dứt, đội quân kia cũng biến mất.

 

Bà lấy làm lạ, sai các phó tướng theo dõi nhiều đêm liền. Đến một đêm kia, đang mơ màng trong trướng, bỗng thấy có một người mặc chiến bào. Quỳ xuống trước trướng cúi lạy, thưa rằng: "chúng tôi là những chiến binh trước đây đã từng theo các ông Lương Văn Chánh, Văn Phong mở đất, nay thấy việc khởi binh của đại vương Tây Sơn là hợp ý trời, lòng dân nên thiên đình sai chúng tôi theo phò tá nghĩa quân Tây Sơn, dẹp giặc lộng hành Trương Phúc Loan và chúa Trịnh…” Giật mình thức dậy, bà không thấy viên tướng kia đâu nữa. Sáng bà đem chuyện thưa với tướng quân Vũ Văn Nhậm. Cả hai liền mang câu chuyện huyền bí kia tâu lên ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Thấy đây là điềm báo ứng tốt đẹp, Nguyễn Nhạc bèn sai xây một ngôi miếu trên bãi Gò Cà gọi là Miếu Phò Giá  Đại Vương để thờ vong linh các nghĩa binh, phù trợ cho cuộc khởi binh thắng lợi.

 

Trong các trận đánh lớn nhỏ, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, đội hùng binh này luôn đi tiên phong và giúp nhà Tây Sơn phá tan giặc nhà Thanh, thu hồi giang sơn về một mối.

 

Phía bên dưới ngôi miếu Phò Giá Đại Vương có một vực rất sâu mà dân trong vùng gọi là vực Linh Thiêng. Hàng năm cứ vào ngày mùng 9 Tết thì dân làng đến cúng tế thần linh gọi là lễ cúng khai sơn. Lễ cúng thường là các chim thú săn được quanh vùng núi này. Người dân lập đàn, bày hương án và các lễ vật vái vong linh các tử sĩ trên ngôi miếu Phò Giá Đại Vương, bà Hậu Thổ, Thổ Địa, cùng các vị chư thần phù hộ cho mùa săn bắt hái lượm gieo hạt mới trong năm, sau đó thì tất cả chim thú dùng tế lễ đều được phóng sanh. Suốt cả ngày mùng 9, tất cả dân đinh quanh vùng đều phải trai tịnh. Và đến giờ hoàng đạo ngày hôm sau mới có thể vào núi khai khẩn, sản xuất. Có nhiều người vì mưu sinh vì miếng ăn cho gia đình, không thể chờ lâu hơn, nên vào núi trước ngày mùng 9 Tết đều bị rơi xuống vực mà không thấy trở về.

 

Đối với địa danh Cù Mông, ngày nay vẫn còn lưu truyền trong dân gian nhiều câu hò vè nói về sự nguy hiểm, gian nan khi phải vượt đèo này. Đó là một ngọn đèo nhiêu khê, cao ngất và hiểm trở nhất vào thời bấy giờ. Một trong những câu như vậy đã phản ánh khá rõ nét về những sinh hoạt của người thôn dân giữa hai bên đèo, là lời than oán của các chinh phụ trong thời kỳ mở đất, tranh chấp quyền lực giữa chúa Nguyễn với chúa Trịnh, hoặc giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.

 

Tiếng ai than khóc nỉ non

Như vợ chú lính trèo hòn Cù Mông

Công tôi mang quảy gánh gồng

Bước vội theo chồng bảy bị còn ba.

Một câu ca dao khác, nội dung như trên nhưng hai câu sau thay đổi chi tiết:

Tiếng ai than khóc nỉ non

Như đoàn lính thú trèo hòn Cù Mông

Xa xa thiếp đứng thiếp trông

Thấy đoàn lính thú hỏi chồng thiếp đâu?

 

Căn cứ vào nội dung các câu ca dao trên, chúng ta có thể suy luận ra, ngoài công việc vận lương trong quân cơ cho binh sĩ khi chiến đấu còn có một hình thức vận lương khác, đó là khi đã bình định xong phần đất phía nam, có lẽ Lương Văn Chánh và những người kế tục sau này đều chia các binh đội thành những toán quân nhỏ để canh giữ những nơi xung yếu, vì vậy "vợ những chú lính” trấn thủ đó phải tiếp tế thêm lương thực cho chồng, nên tự tổ chức thành từng toán trèo hòn Cù Mông vào phía nam thăm chồng. Núi cao, đèo dốc, vực sâu khiến những bước chân yếu mềm của người phụ nữ càng gặp khó khăn gấp bội. Và đó là nguyên nhân của những tiếng khóc "nỉ non”?

 


HUYỀN THOẠI VỀ TÊN ĐÈO CÙ MÔNG
Huyền thoại về tên đèo Cù Mông còn được lưu giữ tới ngày nay là do thế núi nằm trải dài từ cao nguyên An Khê, Gia Lai đổ ra biển, giống như con rồng nằm phủ phục mà đầu là Xuân Lộc ra tới Gành Ráng, đuôi níu giữ dãy Ngok Linh. Vì vậy tên xưa của Cù Mông chính là Cù Mãng. Mãng là con rắn thần, Cù là linh vật có đầu lân mình rồng. Những khi thời tiết thay đổi, mưa gió bão bùng nổi lên, thì dân địa phương gọi là Cù dậy, bởi cả một vùng đầy sấm chớp, những ngọn cây cong oằn trong màn mưa dày đặc tựa như cả thân con linh vật chuyển mình; đặc biệt từ ngoài biển ngó vào, những rìa đá lởm chởm, những ngọn núi chạy dài tận mép nước hứng nhận những đợt sóng tạt lên trông giống như đầu con rồng đang há mõm hút nước vậy, mà đầu là từ Bãi Bàng, Bãi Bầu, Bãi Sấu…
Ngày xa xưa, mảnh đất từ An Khê đến Vân Canh đổ về phía La Hiên, Đa Lộc là nơi có nhiều âm binh quấy phá dân lành, phá hoại hoa màu, nhưng tệ hơn cả là có con beo thần mình dài 8 thước, hai chân sau có thể đứng thẳng và đi như con người. Con beo thần này thường lén hút hết nước từ các sông suối đưa lên tận Man Khê (An Khê?) khiến cho người dân trong vùng không có nước tưới hoa màu, gây hạn hán và đói kém triền miên cho nhân dân cả một vùng rộng lớn. Những ngày cầu đảo cúng tế đất trời kéo dài với tiếng than khóc của những người dân cùng khổ khiến thiên đình động lòng, bèn sai thần làm mưa đưa con rắn xanh-Cù Mãng (có nhiệm vụ coi sóc giếng nước thiên đình) xuống trần gian, nằm phủ phục trên đỉnh Cù Mông để bắt con beo thần và làm mưa cho vùng đất này. Beo thần bị con Cù Mãng bắt đưa về trời sau cuộc chiến kéo dài ròng rã mấy năm trời. Vì vậy, hàng năm cứ vào tháng 9, tháng 10 âm lịch là cả vùng đất Cù Mông mưa gió, sấm chớp nổi lên đùng đùng mà người dân gọi là cuộc huyết chiến giữa thần Cù Mãng và Beo thần ngày trước.
CHIẾC BÁNH NẬM CỦA NỮ NHI PHÙ QUỐC
Ở ĐẦM CÙ MÔNG
Đầm Cù Mông
Theo Địa Chí Phú Yên (NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2003) thì đầm Cù Mông nằm ở phía Nam núi Cù Mông, tục gọi là vũng Mồi, diện tích toàn đầm là 15.000ha.
Còn theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, đầm Cù Mông ở phía Bắc huyện Sông Cầu, là địa phận thuộc ba thôn Tuỳ Luật, Hội Phú và Vĩnh Cửu, mặt đầm rộng trên 2.000ha. Trong đầm Cù Mông có hòn Nần là một đảo nhỏ có diện tích khoảng 1 mẫu tây, toàn đá lô nhô, không có cây cối rậm rạp như những đảo khác mà chúng ta thường hay thấy. Gọi là đảo, nhưng kỳ thực đó là một tảng đá gốc nằm xoải dài theo hướng Bắc-Nam, chỗ rộng nhất khoảng 15 mét. Trên giữa hòn Nần có một miếu thờ nhỏ, bên cạnh có cây da nhỏ còi cọc, tồn tại được là nhờ ít nước mưa hàng năm và sương đêm.
Năm Kỉ Mùi (1799), Nguyễn Ánh cho sửa sang đường sá từ đỉnh Cù Mông trở vào nhằm giảm bớt độ dốc, thông quang giúp cho việc qua lại, vận chuyển hàng hoá lương thực được dễ dàng hơn. Sau khi lên ngôi 1802, vua Gia Long cho đặt các trạm dịch trên đỉnh Cù Mông giữa hai tỉnh Bình Định và Phú Yên có tên là trạm Bình Phú. Cuối năm này, Gia Long cho xây dựng miếu Biểu Trung ở hòn Nần trong đầm Cù Mông thuộc thôn Vĩnh Cửu tổng Xuân Bình để thờ phụng Thiếu Quận Công Mai Đức Nghị và 515 tử sĩ (kể cả Thiếu Quận Công là 516) trong cuộc chiến với nhà Tây Sơn. Ban đầu miếu có tên là Cù Mông Công Thần Miếu, nhưng đến năm Tân Hợi (1851) vua Tự Đức lại đổi tên là Miếu Biểu Trung, hàng năm đều cúng tế hai lần vào mùa xuân và mùa thu rất linh đình. Nhưng từ đời Thành Thái trở đi mỗi năm chỉ cúng tế một lần vào dịp xuân kỳ. Từ năm 1933 trở về sau, do chiến tranh ngày mỗi ác liệt hơn, nên việc cúng tế tổ chức năm có năm không rồi mất hẳn.
Trước đó từ thời Gia Long, việc cúng tế ngoài các lễ vật là heo sống, gà cùng các loại ngũ cốc, có một loại bánh không thể thiếu, đó là bánh nậm.
Bánh nậm được làm từ bột gạo xay nhuyễn, "đăng” khô rồi bỏ vào xoong, nồi xáo cho dẻo lại. Sau đó dùng đũa hay muỗn xúc từng muỗng nhỏ trài lên miếng lá chuối tươi có kích thước 6x12cm, bên trên thêm nhân là đậu xanh, thịt băm hay tôm gói lại, đặt vào chõ hấp chín.
Tương truyền khi quân Nguyễn Ánh bị anh em nhà Tây Sơn đánh tháo chạy ẩn nấp trên hòn Khô (thuộc dãy Cù Mông) sau đó tìm đường xuống chân đèo tìm cách vượt qua đầm Cù Mông để xuôi về phương Nam. Trong khoảng thời gian này, việc tiếp ứng quân lương hoàn toàn bị bế tắc, tất cả quân sĩ đều phải đào rễ củ trên rừng để sống qua ngày. Đến khi lần xuống được khu vực Xuân Lộc thì tìm thấy một số cư dân sinh sống từ lâu ở đó. Do đời sống kinh tế khó khăn, lúa thóc hiếm, nên người dân phải xay gạo thành bột rồi gói bánh cho quân sĩ  Nguyễn Ánh tạm sống qua ngày.
Cái ăn thiếu thốn đã đành, nhưng tinh thần chưa kịp hồi phục, thì đại quân Tây Sơn dưới sự thống lĩnh của Trần Quang Dũng và Bùi thị Xuân lại kéo đến vây đánh. Trận huyết chiến đã xảy ra tại đây với hàng ngàn binh sĩ của hai bên ngã xuống, tàn quân Nguyễn Ánh chống đỡ không nổi phải tìm đường tháo chạy, nhưng mọi ngả đều bị vây chặt. Cuối cùng, nhờ đêm tối và được sự trợ giúp của dân địa phương đưa toán bại binh của Nguyễn Ánh xuống bến đò Tuỳ Luật, dùng sõng nan đưa từng toán quân ra hòn Nần trú ẩn, rồi tìm đường vào phương nam.
Chuyện kể, bà Phạm thị là một phụ nữ có đầy đủ các đức tính tốt của người phụ nữ Việt Nam; chăm chỉ làm ăn và nuôi chồng con. Khi quân Nguyễn Ánh chạy vào trú nạn, trong số ấy có một người tướng mạo phương phi, tư chất khác thường, nên trong số bánh nậm bà cùng dân địa phương mang đến, có những chiếc bánh do bà làm ngon hơn, khéo hơn để dâng riêng cho Nguyễn Ánh. Khi nhận được những chiếc bánh trong đêm tối, giữa một khung cảnh âm u, khói, thuốc súng và tiếng kêu rên của binh sĩ bị thương nổi lên, Nguyễn Ánh ngửa mặt nhìn trời đêm và kêu lên rằng: "Trời vẫn chưa hại ta. Con dân vẫn còn thương ta. Ta nguyện thâu tóm giang sơn về một cõi…” rồi mở bánh ra vừa ăn nước mắt vừa chảy ròng ròng.
Lần cuối cùng Phạm thị mang bánh ra dâng, cũng là lúc bại binh Nguyễn Ánh chuẩn bị bôn tẩu. Trong bóng tối nhá nhem, Phạm thị dâng bánh và nói: "Các ngài ăn uống cho no và liệu bề tìm đường mà lánh. Quân Tây Sơn đã lần ra manh mối chỗ trú ngụ của các ngài”.
Nguyễn Ánh hỏi: "Nhà ngươi là ai? Sao không tâu báo với quân Tây Sơn mà lĩnh thưởng?”.
Phạm thị nói: "Thấy người cùng đường mà không giúp là kẻ không có lòng nhân; lại bắt nộp để nhận vàng bạc châu báu là người bất lương. Tôi tuy phận đàn bà nhưng cũng biết chút ít đạo lý thánh hiền, xin ngài chớ nói vậy”.
Nguyễn Ánh gạt nước mắt: "Ta thâu tóm được giang san, sẽ nguyện báo đáp ơn này”.
Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh cho người đến bến đò Tuỳ Luật, tìm bà Phạm thị để báo đáp ân xưa. Các bậc cao niên trong vùng kể lại theo lời kể của cha ông thuở trước rằng, bà Phạm Thị được vua Gia Long ban tặng trướng gấm với 4 chữ Nữ Nhi Phù Quốc (?) và tặng cho bộ chén dĩa bằng ngọc, đũa ngọc cùng bộ ấm trà, lụa là cùng nhiều vàng bạc… để trả ơn cứu tử ngày xưa.
Theo ông Nguyễn Đích, nguyên là cán bộ văn hoá của tỉnh Phú Khánh trước kia, sau là Phó Chủ Tịch UBND huyện Sông Cầu thì các món gia bảo này được gia đình bà Phạm thị giữ gìn từ sau khi Gia Long lên ngôi ban tặng cho đến ngày toàn quốc kháng chiến thì bị thất lạc do phải chạy giặc, chôn giấu nhiều lần.
Ngày nay nghe lại câu chuyện kể này như nghe một giai đoạn lịch sử bi hùng của đất nước thời phong kiến.
(Theo lời kể của ông Nguyễn Đích, nguyên Phó chủ tich UBND huyện Sông Cầu và người dân ở các xã Xuân Hải, Xuân Lộc)
TIÊN NỮ Ở BÃI TIÊN

Bãi tiên Ảnh: Internet
Bãi Tiên cách thị trấn Sông Cầu 15km về phía bắc, nằm giữa đầm Cù Mông và vịnh Xuân Đài. Do ở phía ngoài biển có những dãy núi nhỏ và bán đảo che chắn nên Bãi Tiên nước nông. Bên trong núi chạy kẹp sát nên đã tạo cho nơi này phong cảnh hữu tình, khí hậu mát mẻ quanh năm, cùng các loại hải sản ngon hầu như có quanh năm.
Cũng có nhiều truyền thuyết chung quanh Bãi Tiên. Theo như lời kể của ông Nguyễn Đích, ông Nguyễn Vinh ở Nhà Ngòi và bà con ở xã Xuân Thịnh thì Bãi Tiên vốn tên xưa là bãi Trù, bãi Mắm, biển ăn sát vào chân núi. Lúc đó chưa có đường thông quan, cây cối um tùm, nhất là cây mắm, cây sú, vẹt… những loại cây phát triển khá nhanh trong vùng ngập mặn. Càng về sau, do điều kiện sinh sống, người dân quanh vùng khai thác cây làm trại, làm chắn đánh bắt thuỷ sản nên cuối cùng chỉ còn vùng nước mênh mông. Những ghe câu, sõng nhỏ đánh bắt tôm cá trong vũng đầm cùng với việc thả lưới, đánh đăng phát triển nhanh, khiến người dân phải tổ chức canh giữ…
Trong một đêm trăng sáng, những ngư dân nằm mơ màng trên ghe, bỗng nghe tiếng nước quẫy như có người đang ngụp lặn trong làn nước xanh, như đàn cá đang khua động mặt nước vượt vũ môn. Thấy lạ, họ mở mắt ra và thấy một cảnh tượng mà họ không thể nào ngờ tới dược. Đó là một bầy tiên nữ xuống tắm trong đầm. Tiếng cười đùa, tiếng nói lao xao trong tiếng sóng vỗ. Các ngư dân nhẹ nhàng bơi thuyền tới gần để nhìn cho rõ mặt; nhưng tiếng động của mái chèo, tiếng khua nước đã phá vỡ sự yên tĩnh khiến những nàng tiên kiều diễm kia vụt biến mất, trước sự bàng hoàng, ngơ ngác của họ. Một vài ngư dân bạo dạn cho áp thuyền sát nơi các nàng tiên tắm khi nãy thì quanh họ chỉ còn thoang thoảng mùi hương thơm dìu dịu mà các thục nữ, tiên nga thì biến đâu mất.
Đêm sau và những đêm sau nữa, những ngư dân chia nhau canh thức để hòng khám phá điều kỳ diệu kia, nhưng các tiên nữ không bao giờ xuất hiện nữa. Sau này họ  kể lại cho dân làng nghe và đặt bãi Trù thành bãi Tiên như tên gọi ngày nay.
Dị bản:
Cũng chuyện tích bãi Tiên, nhưng lại có một câu chuyện kể khác từ phía các cụ ở Xuân Hải.
Ngày xưa có một nho sinh trong làng tư chất thông minh, học giỏi, khôi ngô tuấn tú nhưng nhà thì rất nghèo, phải đi làm thuê mươn cho các nhà giàu để có tiền mua sách vở. Một đêm kia người chủ sai chàng mang lưới ra đầm đóng đăng để bắt cá. Cơm nước xong, chàng nho sinh mang đồ nghề lên thuyền và không quên mang theo sách học.
Sau khi công việc đóng lưới giăng cá xong xuôi, chàng nằm gối đầu lên be thuyền và ngủ thiếp đi lúc nào chẳng hay, đến khi mở mắt ra thì cũng vừa lúc mặt trăng hạ tuần nhô lên khỏi đường cong chân trời. Ánh trăng như dát vàng lên những đợt sóng lăn tăn trên mặt đầm khiến chàng say sưa ngắm nhìn mà quên cả chuyện đốt đèn ôn lại sách vở. Trăng lên cao thêm chút thì bất ngờ, trước mắt chàng bóng một thiếu nữ nhô lên khỏi mặt nước, thả trôi như một chiếc lá nhẹ tênh. Có lúc, người thiếu nữ lặn đâu mất trong làn nước, khá lâu sau mới trồi lên, xoã mái tóc dài như chiếc thuyền mành rồi thả người trên đó, cho tới khi mặt trăng lẩn vào đám mây thì mất hẳn. Tới rạng sáng không thấy dấu tích gì chứng tỏ là mấy canh giờ trước đó đã từng xảy ra một sự việc lạ. Tuy vậy, chàng nho sinh kia không hé lộ với ai bất kỳ chi tiết nào về chuyện mình đã chứng kiến.
Đêm sau, chàng lại mang đồ nghề và chèo thuyền đi. Mọi việc xong xuôi đâu đó, chàng ngồi căng mắt chờ. Trăng nhô lên khỏi mặt biển đã khá lâu nhưng hầu như không thấy điều gì lạ. Mặt biển vẫn gợn những con sóng vàng lăn tăn, chàng trai chờ mãi, chờ mãi rồi thiếp đi lúc nào không hay. Đến khi mở mắt ra thì trời đã sáng bảnh.
Hôm sau, chàng lại vác lưới chèo thuyền đi, rồi hôm sau nữa, vẫn không thấy người thiếu nữ tắm trong đầm như cách đó ba hôm… Cho đến một đêm kia, khi mặt trăng chỉ còn là lưỡi cong nhọn treo lơ lửng trên bầu trời trong vắt thì đột nhiên từ mặt nước nhô lên người thiếu nữ như đêm đầu tiên. Hình như có tiếng hát du dương không rõ rệt lan nhanh đến tận nơi chàng nho sinh neo thuyền. Thiếu nữ thả trôi trên mặt nước, hai tay lúc vẩy trong sóng gợn, lúc thả xuôi, nhìn xa như một bức tượng thạch trắng, cho tới khi gà cất tiếng gáy thì nàng biến mất trong làn nước.
Lần này, chàng nho sinh không thể giữ lòng, đem chuyện kể lại cho trai đinh trong làng nghe, và tối đêm đó cả đám trai bạn cùng chèo thuyền ra đầm. Nhưng tiếc thay, bọn họ không bao giờ có được may mắn nhìn ngắm người con gái huyền hoặc tắm trăng nữa.
Mãi sau này, gần tới ngày chàng nho sinh về kinh ứng thí, đêm nằm mộng thấy người con gái đứng ngoài đầm nói vọng vào: "Ta là tiên nữ trên thiên đình, lỡ đánh rơi chén ngọc của Ngọc Hoàng nên bị bắt xuống trần gian mò tìm lại. Trước khi chàng nhìn thấy ta thì ta đã tìm lại được chén ngọc rồi. Ta là tiên, chàng là người trần, không thể gặp nhau, nhưng ta có thể giúp chàng thi đỗ trạng nguyên kỳ này”. Nói xong nàng biến mất.
Kỳ thi ấy, chàng nho sinh đỗ trạng nguyên, được vua gả công chúa và cho giữ một chức trọng quan trong triều.
Nhớ cảnh cũ và ơn xưa, trong lần qui cố hương, chàng kể chuyện này cho cả tổng nghe và đặt bãi Trù thành bãi Tiên như tên gọi ngày nay.
(Theo lời kể của các ông  Nguyễn Đích, Trương Hớn, Phan Văn Năm)
Chủ đề: Truyện kể dân gian | Lượt xem: 314 | Đăng bởi: hoangtu_bongdem2912_86 | Đánh giá: 0.0/0
Total comments: 0
Chỉ thành viên mới có thể thêm ý kiến.
[ Đăng ký | Đăng nhập ]
 
Trang chủ | Lý lịch! | Ghi danh | Đăng xuất | Đăng nhập 

Website được phát triển bởi các thành viên lớp 08cvhh - Khoa Ngữ Văn - Trường đại học Sư Phạm Đà Nẵng

== Website bắt đầu hoạt động từ ngày 01 tháng 5 năm 2011==