Tâm Linh Bí mật bên trong Thánh địa của nhà lang mường Động - 21 May 2011 - 08 văn hóa học - Đại học Sư Phạm Đà Nẵng


Chào mừng Các bạn đã ghé thăm Website của tập thể lớp chúng tôi vào Thứ 6, ngày 09/12/2016, lúc 0:14 AM. Chúc bạn tìm được những điều bạn cần trên Website của lớp chúng tôi. Nếu Bạn muốn Download tài liệu thì xin vui lòng đăng nhập để thấy linhk, nếu có thắc mắc gì xin vui lòng liên hệ với Quản trị Website theo số điện thoại: 0985639026 hoặc Email: chinh08cvhh@gmail.com. Xin chân thành cảm ơn các bạn.
Trang chủ » 2011 » Tháng 05 » 21 » Tâm Linh Bí mật bên trong Thánh địa của nhà lang mường Động
11:28 PM
Tâm Linh Bí mật bên trong Thánh địa của nhà lang mường Động

Tâm Linh Bí mật bên trong Thánh địa

của nhà lang mường Động

Bây giờ nơi đây không còn rậm rạp và nhiều cột đá nữa, song vẫn là nơi mang đầy bí ẩn hấp dẫn sự tò mò, kích thích sự tìm tòi của những người quan tâm.

Cũng có người đã biết đó là khu mộ cổ của nhà lang, nhưng tên tuổi của chủ nhân khu mộ, những bí mật bên trong những ngôi mộ ấy có gì hoặc lý do tại sao những cột đá xanh có nguồn gốc từ Thanh Hoá lại có mặt làm hòn mồ trong khu mộ cổ thì chắc còn ít người biết tới.

Đống Thếch chính là khu mộ cổ của dòng họ Đinh mường Động, Kim Bôi, Hoà Bình. "Đống” theo quan niệm của người Mường - dùng để chỉ những nơi có mồ mả. Còn "Thếch” là địa danh. Vì thế khu mộ mang tên là Đống Thếch.

Khu mộ nằm trong một thung lũng nhỏ, bằng phẳng, vây quanh ba mặt là những quả đồi thấp. Khu đất có địa thế hình miệng rồng - thế đất tốt theo quan niệm thuật phong thuỷ ngày xưa, cho nên từ lâu dòng họ quan lang Mường Động đã độc chiếm làm nghĩa địa.

Ảnh: tác giả cung cấp

 

Với diện tích rộng vài vạn mét vuông, trải qua nhiều đời, khu Đống Thếch đã ẩn chứa hàng trăm ngôi mộ của nhiều thế hệ. Trong đó có nhiều ngôi mộ, xung quanh được chôn nhiều hòn mồ cao lớn như cắm dấu ấn biểu hiện quyền lực của dòng họ lang mường Động. Đống Thếch trở thành "Thánh địa” riêng của nhà lang, bị cây rừng phủ lên rậm rạp, càng trở nên bí hiểm trước con mắt của người dân mường Động từ đời này sang đời khác.

 

Trước Cách mạng tháng Tám, Đống Thếch vẫn là "Thánh địa” bất khả xâm phạm của nhà lang mường Động. Đến trước năm 1975, khu mộ vẫn còn nguyên vẹn với hàng nghìn cột đá to, nhỏ được chôn dày đặc xung quanh mộ trông như một "rừng đá”. Trên các phiến đá lớn ở nhiều ngôi mộ có khắc chữ Hán ghi lại ngày, tháng, năm sinh, năm mất, tước hiệu của chủ nhân và năm, tháng dựng mồ.

 

Lịch sử của dòng họ Đinh mường Động:

 

Mường Động là một trong bốn mường lớn: Bi, Vang, Thàng, Động ở tỉnh Hoà Bình. Từ thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ thứ XVIII dòng họ Đinh là dòng họ có thế lực mạnh nhất cai quản mường Động.

 

Hiện nay, dòng họ Đinh ở mường Động còn lưu giữ được quyển gia phả của dòng họ viết bằng chữ Hán. Do ông Đinh Công Bàng phụng soạn vào năm Cảnh Hưng thứ 25 (1724). Theo gia phả và truyền thuyết thì:

 

Từ thời xa xưa, người khai lập ra dòng họ Đinh vốn là Đinh Như Lệnh, làm thổ tù xã Vĩnh Đồng, ông sinh được hai con trai: Trưởng nam là Đinh Quý Khiêm, thứ nam là Đinh Văn Hương. Đinh Quý Khiêm kế tục là thổ tù, gặp lúc triều Lê dựng nước, ông có công phò vua trợ nước được ban "Phụ quốc tướng quân Khiêm nghĩa hầu” vẫn được làm quan coi sóc xứ Sơn Tây, các dân miền núi đều hết lòng trung nghĩa. Đến khi thiên hạ thanh bình vẫn được phép ra đi thì cầm quân, quay về thị trị dân, lúc có loạn thì đánh giặc, lúc thái bình thì làm nông. Từ đó về sau cứ như vậy.

 

Đinh Quý Khiêm sinh được một con trai là Đinh Như Luật, kế nghiệp làm thổ tù cai quản dân địa phương, nhân dân được trông dựa, đều no đủ, bình an. Đinh Như Luật lấy vợ sinh được một con trai là Đinh Nhân Phúc.

 

Đinh Nhân Phúc sinh được một người con trai là Đinh Văn Thịnh và một con gái là Đinh Thị Đỏ. Đinh Văn Thịnh kế nghiệp làm thổ tù, khi chết không có con thừa tự. Người con gái là Đinh Thị Đỏ lấy chồng là phu đạo ở thôn Tý, xã Vĩnh Đồng sinh được Đinh Văn Thiệu.

 

Đinh Văn Thiệu vốn thông minh được nhân dân yêu mến, vẫn được kế nghiệp họ ngoại (Đinh Nhân Phúc) làm thổ tù cai quản dân địa phương, lấy vợ là Hoàng Thị Mỗ sinh được Đinh Văn Khương, Đinh Văn Khương không may chết sớm.

 

Người thiếp của Đinh Văn Thiệu là Bùi Thị Thời người thôn Dầm sinh được một người con trai là Đinh Văn Cương, con thì nhỏ, vợ thì đơn độc không thể giữ được nghiệp nhà, bị người phụ đạo thôn Đồi xã Vĩnh Đồng tên là An Phú Bá (tức Hoàng Văn An), là kẻ cường hào khinh kẻ cô quả, mưu đồ cướp đoạt và ức hiếp nhân dân, cưỡng ép lấy vợ của thổ tù và nuốt cả cơ nghiệp. Bùi Thị Thời sợ hãi mang con là Đinh Văn Cương trốn vào thôn Khang, xã Phù Liêm, huyện Lạc Thổ, xứ Thanh Hoá, ăn nhờ và nuôi con. Đến lúc thành thân, may gặp lúc trung hưng của triều vua Lê chúa Trịnh được ban chức "Trịnh nguyên soái”, dẫn quân theo đường nhỏ bí mật về Sơn Tây. Đinh Văn Cương chiêu mộ lương, binh tòng quân theo việc nghĩa được sắc phong "Phá lỗ tướng quân Triều Đồng hầu”, may nhờ hồng phúc của Thánh vương, trong khi đánh giặc, lại phụng mệnh lưu giữ chốn biên cương phía Bắc được hơn 7 năm thì xin lui về… được sắc ban cai quản dân binh của 7 xã: Hạ Bì, Nật Sơn, Mỗ Sơn, Trí Thuỷ, Nhuận Trạch.

Ảnh: tác giả cung cấp

Đinh Văn Cương sau đó được gia phong Phụ quốc Thượng tướng quân tước Uy lộc hầu, giữ chức Phiên thần. Từ đó mà xây dựng cơ nghiệp.

Đinh Văn Cương lấy 6 vợ vừa thê, vừa thiếp. Chính thất là Bạch Thị Thừa sinh được Đinh Công Kỷ và Đinh Công Kế, các người vợ và thiếp khác sinh được cả thảy 7 nam, 10 nữ.

 

Đinh Công Kỷ kế nghiệp làm thổ tù, cai quản dân địa phương được tập phong Đề đốc Uy lộc hầu, đời đời làm phiên thần…

 

Như vậy, sau khi phù nhà Lê tiến quân ra Bắc diệt nhà Mạc, trong cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến trong nước cuối thế kỷ thứ XVI. Dòng họ Đinh được vua Lê Chúa Trịnh phong tước cho cai quản mường Động.

 

Cùng với việc xác lập vị trí vững vàng của dòng họ Đinh cha truyền con nối làm tù trưởng miền sơn cước, khu mộ Đống Thếch được tạo nên.

 

Khu mộ là nơi chôn cất thi thể của những người thuộc dòng họ Đinh. Đặc biệt trong khu mộ có mộ của Đề đốc Uy lộc hầu Đinh Công Kỷ.

 

Theo truyền thuyết:

 

Đinh Công Kỷ là người có công giúp vua Lê trung hưng, chống giặc và xây dựng triều chính, ông là một trong những tướng tài của Trịnh Kiểm. Vì có công với nước nên bố ông là Đinh Văn Cương được phong tước Quận Công (vì không trực tiếp có công nên ông vẫn chỉ được gọi là quận công Đinh Văn, chứ không được gọi là Đinh Công như con trai ông). Do vậy dòng họ Đinh Công xuất phát từ Đinh Công Kỷ.

 

Do có công với nước nên khi chết Đinh Công Kỷ đã được mai táng theo tước hầu. Quan tài bằng gỗ trám đen (loại gỗ quý của vùng này), ngoài sơn son thếp vàng và được chôn theo nhiều đồ đạc quý. Đặc biệt do có công với triều Lê nên khi dựng mộ ông nhà Lê đã cho chuyển nhiều phiến đá xanh từ Thanh Hoá ra làm cột mồ.

 

Theo diễn biến của lịch sử, sự chìm nổi của dòng họ Đinh, khu mộ Đống Thếch chỉ vang bóng một thời - trở thành Thánh địa của dòng họ Đinh khi quyền lực vững mạnh ở thế kỷ thứ XVII sang đến thế kỷ sau, chắc chắn ảnh hưởng của nó vẫn còn, khu mộ vẫn tiếp tục nhận thêm những chủ nhân mới về Mường ma, nhưng với vai trò của nó đã dần mờ nhạt đi vào huyền ức của đời sau cùng với nhiều truyền thuyết chưa khám phá ra hết được.

 

Bí mật dưới lòng đất:

 

Sau năm 1975, Đống Thếch dần bị khai phá. Nhân dân địa phương thấy đất trống thì vào khai phá trồng hoa mầu; những hòn mồ bị khiêng làm đường đi, làm mương bai, làm hàng rào....Nhưng nguy hiểm nhất là tệ nạn đào bới mộ cổ tìm cổ vật. Các ngôi mộ bị xới tung, san bằng, mất dấu vết. Cả khu rừng đá biến mất gần hết. ở khu trung tâm nghĩa địa chỉ còn lại 17 ngôi mộ to nhất và những hòn mồ cao lớn không thể đào phá và khiêng đi nổi. Ở những ngôi mộ này đã có sự đào bới sâu 1,5m để tìm di vật. Cả khu Thánh địa tan hoang, xơ xác do tệ nạn đào bới trộm mộ cổ tìm cổ vật.

 

Trước hiện trạng ấy, Viện Khảo cổ học nhận thấy cần phải tiến hành khai quật "chữa cháy” toàn bộ số mộ còn lại, nếu không trong quá trình canh tác các hòn mồ sẽ bị sứt, vỡ và đổ dần đi đến xoá hẳn khu di tích. Khai quật những ngôi mộ còn lại ở Đống Thếch là việc làm cấp thiết, tài liệu sẽ bổ sung và làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu về người Mường trong mối quan hệ Việt - Mường….

 

Năm 1984 Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở Văn hoá Thông tin Hà Sơn Bình tiến hành khai quật "chữa cháy”. Sau hơn 1 tháng khai quật với 13 ngôi mộ, khu mộ Đống Thếch đã cung cấp nhiều tư liệu có giá trị.

 

Bí mật trên những hòn mồ:

 

Trong toàn bộ khu mộ Đống Thếch, còn 100 hòn mồ to nhỏ khác nhau, tạo thành "hàng rào” dựng quanh từng mộ, với số lượng nhiều, ít, kích thước không đồng nhất. Trong số đó có 12 hòn mồ được khắc chữ Hán. Do thời gian và bị đập phá sứt mẻ, nhiều chữ bị mài mòn khó đọc.

 

Hòn mồ là những cột đá có dạng tròn, hoặc dẹt tạo dáng dày dựng thành hàng rào vây quanh mộ, các mộ có hình chữ nhật, hay hình vuông. Số lượng các hòn mồ dựng xung quanh các mộ không thống nhất, mộ nhiều, mộ ít. Mộ thì còn tới 17 hòn có mộ chỉ 5 đến 7 hòn.

 

Các hòn mồ có kích thước to nhỏ khác nhau, hòn mồ thanh mỏng dày 0,3m, thanh tròn dẹt chu vi trên 2m. Thông thường hòn mồ được chôn sâu khoảng 1/4 hay 2/5 và nhô lên khỏi mặt đất 0,5m, có hòn nhỏ nhô cao gần 3m.

 

Đặc biệt trên một số hòn mồ có khắc chữ Hán, cá biệt có hòn được trang trí đơn giản. Các hòn mồ khắc chữ thường được để tự nhiên, gọt đẽo sơ sài, thậm chí còn khắc trên những hòn đá có vết xước hay rỗ chữ khắc tuỳ tiện, cột dòng không chuẩn, chỗ nào phẳng là khắc, còn chỗ rỗ hoặc xước thì bỏ hoặc khắc chữ thật to. Tuy nhên số lượng hòn mồ được khắc chữ Hán không nhiều, chỉ còn lại 12 hòn.

 

Sau khi xem xét trên các ngôi mộ còn hòn mồ cho thấy hòn mồ ở các mộ thường tuân thủ theo một quy tắc chung:

 

- Đầu mộ: Thường chôn ba hòn đá cao, to nhất thành một hàng thẳng.

 

- Chân mộ: Được chôn ba hòn đối xứng với đầu mộ, các hòn đá nhỏ và thấp hơn.

 

- Hai bên sườn mộ: Được chôn các hòn mồ cao thấp, không đều, số lượng không giống nhau, bên nhiều, bên ít, mộ nhiều, mộ ít tuỳ thuộc theo quy mô của mộ.

Ảnh: tác giả cung cấp

 

Ngoài những mộ có những hòn mồ chôn theo quy tắc chung trên, còn một số mộ phần đầu chỉ chôn một cột đá to, cao thay thế cho hai cột mồ bên, phần chân vẫn chôn ba hòn như mộ khác. Trong số đó có hai mộ ở phần đầu và chân chỉ chôn một cột đá đối xứng qua trục dọc thân mộ. Dù được chôn số lượng hòn mồ khác nhau, nhưng các mộ đều tuân theo một quy tắc chung: Đầu và chân mộ bao giờ cũng có hai cột hòn mồ đối xứng qua trục giữa huyệt mộ.

Trải qua mưa nắng và qua bao thăng trầm của lịch sử những dòng chữ trên các hòn mồ đã bị mờ dần đi, chỉ còn lại một số hòn là có thể đọc được như:

 

Hòn số 1:

 

Phiên âm: Bia truyền

 

Phụng chuẩn cấp cai Nật Sơn xã Tịnh Hạ Bì xã, Ấm, Ná, Lãnh, Sào đẳng thôn.

 

Vĩnh Đồng xã thổ tù kiêm cai quản Uy lộc hầu Đinh Văn Kỷ: nguyên mệnh Nhâm Ngọ bát nguyệt nhị thập lục nhật, tỵ thời sinh. Trưởng nam quyền - phủ tập hợp hoà - chí Đinh Hợi niên, thập nguyệt thập tam nhật sửu thời chung. Cúng chữ tế triều...

 

Phụng tặng Chưởng vệ sự Đề đốc Uy quận công. Chí Canh Dần niên nhị nguyệt nhị thập nhị nhật quy sơn. Đụng hiếu xa thập ngũ toạ, tượng thất chích, mã ngũ sất, hình nhân nhị thập tuỳ.

 

Tổ phụ Đinh Văn Cương, thủ màu Nật Sơn xã, Vụ thôn. Ngoại tổ vô nam. Từ nữ Bạch thị Thiều sinh tứ tử, nhị nam, nhị nữ, lưu truyền phụng tự kế nghiệp cơ đồ thế trụ.

 

Khánh Đức nhị niên, nhị thập nhị nhật tống đáng mộ trạch mùi thời an huyệt. Chí tam thập nhật hoàn tất hậu.

 

Phúc Thái thất niên, mậu tý tam nguyệt thụ điển tặng gia phong thượng trật.

 

Dịch nghĩa:

 

Bia truyền: ông Đinh Công Kỷ, tước Uy lộc hầu thổ tù kiêm cai quản xã Vĩnh Đồng, được ban cai quản xã Nật Sơn và các thôn Ấm, Ná, Lãng, Sào, Hạ Bì sinh giờ tị, ngày 26 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1582), ông là trưởng nam, được hưởng quyền tập phong (có đức) vỗ về, phủ dụ tập hợp (được dân). Đến ngày 13 tháng 10 năm Đinh Hợi (1647) mất vào giờ sửu, được quản tại nhà cúng tế. (Ông) được ban tặng Chưởng vệ sự Đề đốc Uy quận công. Đến ngày 22 tháng 2 năm Canh Dần (1650) có 15 xe tang, 7 voi, 5 ngựa cùng 20 hình nhân theo về núi.

 

Bố là Đinh Văn Cương lấy mẹ là người thôn Vụ, xã Nật Sơn. Ông tổ bên ngoại không có con trai. Con gái là Bạch Thị Thiều sinh được bốn con, hai trai, hai gái, con cháu được nối tiếp nhau thờ cúng, kế nghiệp cơ đồ mãi mãi.

 

Đến năm Khánh Đức thứ hai (1650) ngày 22 tháng 2 được đưa ra mộ, an huyệt vào giờ mùi. Đến ngày 30 thì xong việc chôn cất.

 

Tháng 3 năm Mậu Tí, niên hiệu Phúc Thái thứ 7 được điền tặng gia phong thượng trật.

 

Hòn số 2 và hòn số 3:

 

Dịch nghĩa: Là hai hòn mồ của các cháu rể 2 xã: Thạch Bi và Vũ Lao mang đến phúng.

 

Hòn số 4:

 

Dịch nghĩa:

 

Linh cữu của Đinh Quý Công, sinh năm Nhâm Ngọ (1582) thọ 66 tuổi, … Linh cữu được đặt trên xe tang, cúng tế theo tục lệ, các anh, em đều nghiêm kính thuận hoà. Chức Dực vận tán trợ công thần, đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân, Cẩm y vệ Thụ sự lộc hầu, tặng Chưởng vệ sự, Điện tiền đô hiệu điểm, Ty đề đốc Uy quân công, tên thuỵ là Tính Thành, tự là Quý trúc phủ quân.

 

Ngày 22 tháng 2 năm Canh Dần (1650) thời vua Lê chúa Trịnh thanh bình đưa ông ra mộ.

 

Hòn số 5:

 

Dịch nghĩa:

 

Thời vua Lê chúa Trịnh thanh bình Cảnh Trị thứ 3 (1665)

 

Bà Bạch Thị Hài, sau khi thấy chồng về ở xã Vĩnh Đồng, sinh năm Ất Dậu (1582) thọ 76 tuổi, mất năm 1660. Đến ngày 5 tháng 2 được đưa ra huyệt mộ.

 

Hòn số 6:

 

Dịch nghĩa:

 

Lương xá bá Đinh Quý Lang, hiệu Giáo minh, mất và đưa ra mộ năm 25 tuổi.

 

Như vậy, qua những nội dung văn tự ghi trên hòn mồ, cho ta nhận biết một cách chính xác tên tuổi, ngày tháng năm sinh và năm mất của chủ nhân của các ngôi mộ.

 

Những hòn mồ ở đây là những tư liệu gốc quan trọng có giá trị góp phần nghiên cứu toàn diện về khu mộ cổ này. Những dòng chữ ghi khắc trên những hòn mồ cho biết về những phong tục tập quán của người Mường trong tang ma như: đặt hòn mồ quanh mộ, số lượng hòn mồ được quy định cụ thể theo từng dòng họ. Nguyên tắc đặt hòn mồ quy định theo giới tính, lứa tuổi, chức tước… Hòn mồ còn là vật phúng viếng của người thân đối với người quá cố. Các nghi thức tang ma, đồ tuỳ táng hay hôn nhân cũng phần nào được ghi lại góp thêm những tài liệu xác đáng để tìm hiểu xã hội người Mường

 

Đồ tuỳ táng:

Xưa, người Mường có phong tục chia của cho người chết. Họ quan niệm rằng, người chết khi về mường Ma cũng có cuộc sống như khi còn sống. Gia đình nào càng khá giả thì hiện vật chia theo càng nhiều, càng phong phú. Chính điều này đã thu hút lòng tham của những kẻ đào bới trộm mộ cổ tìm cổ vật vào những năm 80 của thế kỷ trước. Nhiều hiện vật quý bị mất đi, hoặc bị vỡ nát. Các khu mộ cổ tan hoang, tiêu điều.

 

Ảnh: tác giả cung cấp

Tại khu mộ Đống Thếch với hàng trăm ngôi mộ, lại là mộ của nhà lang và đặc biệt trong đó có mộ của Đô đốc Uy lộc hầu Đinh Công Kỷ, chắc chắn số lượng hiện vật được chôn theo là không nhỏ. Nhưng do tệ nạn đào bới trộm cổ vật, các ngôi mộ hầu như bị xới tung, chắc chắn số lượng hiện vật bị mất đi là khá lớn.

Qua kết quả khai quật cho thấy đồ tuỳ táng được đặt ở trong quan tài, trong lớp than và cả trong lớp đất lấp mộ. Những đồ tuỳ táng lớn thường được để ở hai đầu quan tài, các đồ nhỏ được để tập trung vào vùng giữa áo quan.

 

Hiện vật thu được trong các nhóm mộ vô cùng phong phú, nhiều loại hình được chế tạo từ nhiều chất liệu. Đặc biệt đồ gốm sứ mang nhiều dáng vẻ đặc trưng kỹ thuật của nhiều thời đại khác nhau. ở đây bắt gặp cả hiện vật thời Lý, thời Trần cả đồ gốm Trung Quốc, Nhật Bản. Nhưng nổi bật hơn cả là gốm sứ thời Lê với nhiều loại hình, từ những chiếc ấm men rạn hoa lam, đến nhiều chiếc bát, đĩa với kỹ thuật, phong cách trang trí khoẻ khoắn, bay bướm của thế kỷ thứ XVII, đã tạo nên dáng vẻ toàn diện của bộ sưu tập gốm sứ quý đa dạng với nhiều tiêu bản đặc sắc.

 

Số lượng hiện vật được tuỳ táng khác nhau giữa các ngôi mộ còn phản ánh rõ nét sự phân hoá xã hội sâu sắc trong dân tộc Mường: Một bên là tầng lớp quý tộc quan lang giàu có, một bên là tầng lớp bình dân với hành trang mang sang Mường ma đơn giản theo nghi thức cổ truyền. .

 

Trong các ngôi mộ lớn được phát hiện dưới đáy mộ được phủ kín bằng một lớp lon sành, trong chứa đầy than tro. Đây là tài liệu góp thêm phần lý giải về công dụng của lon sành trong đời sống nhân dân hàng ngày. Trước đây sự xuất hiện hàng loạt lon sành trong các khu mộ Mường đã đưa ra nhiều kiến giải khác nhau: Lon sành là đồ đựng, lon sành dùng để kê chắn nong tằm hay dùng để bẫy ngựa, che nòng súng thần công… Kết quả cuộc khai quật Đống Thếch đã góp thêm sự lý giải với những chứng cớ khoa học xác đáng, lon sành còn được người Mường lót đáy huyệt mộ. Đây phải chăng là biệt lệ của tầng lớp lang đạo giàu có của người Mường ở Mường Động vào nửa cuối thế kỷ thứ XVII.

 

Bên cạnh đồ gốm sứ hầu hết các mộ đều chôn theo tiền đồng, mộ ít nhất 6 đồng, mộ nhiều 87 đồng. Các đồng tiền được chôn theo chủ yếu là tiền nước ngoài (Trung Quốc) niên đại sớm nhất là tiền được chế tạo thời Đường (Cán nguyên trọng Bảo Đường 758 - 760) niên đại muộn nhất là tiền chế tạo đời Tống (Thánh Tống Nguyên Bảo Tống 1101 - 1126). Tiền được chôn trong các mộ tương tự giống nhau được chế tác vào những thế kỷ VIII đến thế kỷ thứ XIII. Sự có mặt của nhiều loại tiền đồng với số lượng lớn, ngoài ý nghĩa riêng về phong tục còn phần nào phản ánh hoạt động kinh tế trong xã hội Mường.

 

Các hiện vật được làm bằng bạc tuy ít ỏi, nhưng loại hình khá phong phú, chủ yếu là đồ trang sức (vòng tay, trâm cài) với kỹ thuật trang trí đẹp, phản ánh yếu tố thẩm mỹ cao về đời sống vật chất, tinh thần của tầng lớp giàu có người Mường.

 

Với tổng thể đồ gốm sứ, đồng, bạc thu được dù dưới dạng vật sử dụng hay đồ minh khí được táng theo chủ nhân ngôi mộ đã phản ánh tương đối tổng quát về đời sống vật chất, tinh thần, ý thức, quan niệm với đời sống - cõi chết của dân tộc Mường. Qua đó có thể giúp cho việc khôi phục diện mạo xã hội Mường vào những năm tháng cuối thế kỷ thứ XVII đầy biến động trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

 

Ngoài các hiện vật thu được trong đợt khai quật khảo cổ học tại khu mộ Đống Thếch (năm 1984). Năm 1987, nhân dân địa phương đã đào được 4 trống đồng và nhiều hiện vật khác.

 

Bí ẩn của hai tuyến mộ:

 

Nếu không đi sâu tìm hiểu, chắc chắn chúng ta khó mà biết được các ngôi mộ trong khu mộ cổ này được phân chia thành hai tuyến mộ. Khi tiến hành khai quật các nhà khoa học đã phát hiện trong khu mộ cổ này có hai nhóm mộ khác nhau(nhóm mộ khu A và nhóm mộ khu B) với những đặc điểm giống và khác nhau khá đặc biệt.

 

Ảnh: tác giả cung cấp

 

Nhóm mộ khu B nằm cách nhóm mộ khu A chừng 200m về phía tây nam. Địa thế khu này cao hơn khu A. Không giống như khu A có hòn mồ nổi trên mặt đất, hòn mồ ở khu B hầu như đều được lấp kín dưới đất, thi thoảng có viên hé lộ khoảng 20 -30 cm trên mặt đất nên khu mộ này ít thấy dấu vết bị đào bới trộm.

Nhóm mộ khu A chủ yếu được chôn theo đồ gốm sứ nước ngoài, ngược lại đồ gốm sứ được phát hiện ở khu khu B đều là chế tạo trong nước. Nhóm mộ khu A hoàn toàn không thấy dấu vết của quan tài, nhóm mộ khu B lại có biểu hiện của chủ nhân các mộ. Trong các mộ hầu như đều thấy dấu vết của quan tài, hài cốt. Vấn đề đặt ra ở đây phải chăng có hai tuyến mộ cùng tồn tại trong cùng thời gian. So sánh hai khu mộ, kết quả khai quật đã cho thấy chúng đồng nhất về phong cách táng tục, hiện vật tuỳ táng, chắc rằng chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau và có cùng niên đại.

 

Đối chiếu với nguồn tài liệu dân tộc học, phối hợp với tư liệu chữ viết ghi trên các hòn mồ cho thấy, trong lễ thức tang ma của người Mường có hai giai đoạn. Giai đoạn đầu người chết được quàn xác tại nhà từ 3 đến 5 năm, sau thời gian đó mới đưa ra huyệt an táng. Với phong tục như vậy, khả năng mai táng hai lần một người chết có thể xảy ra biệt lệ với tầng lớp quý tộc quan lang, nhà lang táng người chết hai lần: một mộ táng phần hồn sau khi chết và một mộ táng phần xác sau thời gian được quàn xác tại nhà. Đây cũng có thể làm theo thuật làm mộ giả như các quý tộc miền xuôi hoặc của triều đình phong kiến bấy giờ.

 

Cùng với những vấn đề trên, nhiều tư liệu lịch sử chuẩn xác cũng giúp cho chúng ta biết được chức tước của quan lang thổ tù được triều đình phong kiến ban tặng. Chế độ tập quyền cha truyền con nối, quyền trưởng nam trong dòng họ gia đình cùng với những đóng góp của dòng họ Đinh - chủ nhân của khu mộ táng đối với triều đại phong kiến, triều Lê ở miền sơn cước trong những tháng năm lịch sử.

 

Mộ Mường từ lâu đã trở thành đối tượng được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó có khảo cổ học. Nhiều khu mộ Mường cổ đã được ngành khảo cổ học tiến hành khai quật, nhưng đây là lần khai quật có quy mô lớn, cung cấp nhiều tư liệu có gía trị làm sáng tỏ nhiều vấn đề mà ngành khảo cổ học quan tâm cũng như các ngành khoa học khác.

 

Trong các cuộc khai quật mộ Mường trước có ý kiến cho rằng: Tục lệ tang ma của người Mường là hoả táng. Kết quả khai quật khu mộ Đống Thếch cho thấy dấu vết quan tài còn lưu trong hộp than, cụ thể hơn còn tìm thấy nhiều mảnh gỗ quan tài lưu lại. Ngoài dấu vết quan tài ở đây còn tìm thấy đá chèn quan tài giúp cho hình dung cụ thể hơn về hình dáng và cách đặt quan tài. Đó là quan tài làm bằng thân cây, khi an táng dùng đá chèn để tạo thế ổn định. Đặc biệt trong mộ còn phát hiện xương của chủ nhân ngôi mộ. Tất cả những dữ liệu trên khẳng định mộ Mường có chôn theo chủ nhân. Điều này phù hợp với văn bản được khắc trên hòn mồ ghi rõ tên, tuổi, ngày sinh, ngày mất cùng phong tục táng chủ nhân ngôi mộ.

 

Căn cứ vào cấu trúc huyệt mộ, đồ tuỳ táng đã cho thấy táng tục của đồng bào Mường Động còn bảo lưu được nhiều truyền thống táng tục của người Việt cổ. Những nấm mồ có kè đá, mảnh sành xếp soải xuôi hình mái nhà mang dáng dấp bảo lưu của những mộ táng trong văn hoá Đông Sơn của buổi đầu dựng nước được phát hiện trong di chỉ Làng Vạc (Nghệ Tĩnh). Truyền thống sử dụng quan tài bằng thân cây khoét rỗng được duy trì và sử dụng rộng rãi cho đến thế kỷ thứ XVII. Huyệt mộ sử dụng than, tro mang truyền thống của mộ táng có từ thời kỳ Lý, Trần. Đặc biệt việc sử dụng nhiều đồ tuỳ táng chôn theo chủ nhân mang những nét gần gũi với phong tục tuỳ táng của người Việt. Những tư liệu trên đã góp phần phản ánh sự đa dạng trong phong tục tang ma của người Mường phần nào phản ánh mối quan hệ khăng khít với phong tục người Việt, góp thêm những tư liệu để tìm về cuội nguồn hai dân tộc Việt - Mường có chung nguồn gốc trong buổi đầu dựng nước.

 

Hiện nay tại các tỉnh có đồng bào Mường sinh sống như Thanh Hoá, Nghệ An, Phú Thọ ... cũng đã tìm thấy các khu mộ cổ của dân tộc Mường. Tuy nhiên xét về quy mô thì khu mộ cổ Đống Thếch tại Vĩnh Đồng, Kim Bôi Hoà Bình là lớn hơn cả. Trong những năm qua di tích đặc biệt này đã thu hút khá nhiều đoàn khách tới thăm quan, nghiên cứu và đã làm tốn khá nhiều giấy mực của những người quan tâm.

 

Niên đại của khu mộ:

 

Cùng với các hiện vật thu được trong khai quật, tài liệu điều tra dân tộc học trong vùng , kết hợp với truyền thuyết địa phương cùng gia phả dòng họ Đinh - đã bổ xung tư liệu góp phần xác định niên đại khu mộ.

 

Sau khi phù nhà Lê ra Bắc diệt nhà Mạc, dòng họ Đinh được vua Lê, chúa Trịnh phong tước cho cai quản vùng Mường Động. Cùng với việc xác lập vị trí vững vàng của dòng họ Đinh, cha truyền con nối làm tù trưởng miền sơn cước. Khu mộ Đống Thếch được tạo lên, trở thành thánh địa của dòng họ Đinh khi quyền lực vững mạnh ở thế kỷ 17. Sang đến thế kỷ sau, chắc chắn ảnh hưởng của nó vẫn còn. Khu mộ vẫn tiếp tục nhận thêm những chủ nhân mới về mường Ma. Với kết quả khai quật thu được đã cho phép khẳng định những ngôi mộ này có niên đại vào thế kỷ thứ 17, đó là niên đại chính của khu mộ Đống Thếch.

 

Định hướng cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị:

 

Trước sự ngổn ngang, tan hoang của khu mộ cổ. Còn đâu là bạt ngàn rừng đá bí hiểm, còn đâu những nấm mồ cho những linh hồn được yên nghỉ. Làm thế nào để bảo tồn di tích đặc biệt này. Điều đó đã làm day dứt những người làm công tác bảo tàng của tỉnh Hoà bình.

 

Năm 1996, trên cơ sở những giá trị của khu mộ cổ, Bảo tàng tỉnh Hoà Bình đã tiến hành nghiên cứu lập hồ sơ khoa học cho di tích này. Năm 1997 di tích đã được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá Thể Thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia.

 

Đến năm 2001 bằng nguồn vốn của Chương trình mục tiêu quốc gia, Bảo tàng Hoà Bình đã tiến hành tôn tạo khu mộ cổ. Một loạt các hạng mục được đưa vào nhằm khôi phục khu mộ như: làm đường vào di tích, xây tường bao quanh khuôn viên khu mộ, làm đường nội bộ trong khu mộ, xây nhà thường trực và điều quan trọng nhất mà Bảo tàng Hoà Bình đã làm được đó là tiến hành sưu tầm lại các hòn mồ và phục đắp lại một số ngôi mộ. Tuy nhiên do nguồn vốn hạn hẹp, do các hòn mồ bị lấy đi gần hết nên số mộ được đắp lại không nhiều.

 

Việc tu bổ trên đã làm thay đổi diện mạo khu mộ. Từ cõi tan hoang, khu mộ đã được trở về với phần nào diện mạo ban đầu để đến hôm nay còn có khuôn viên cho mọi người đến thăm, còn có những ngôi mộ cho mọi người bái vọng, còn có những hòn mồ cho mọi người tìm hiểu, những linh hồn tha hương đã có nơi để trở về.

 

Mặc dù đã làm được như vậy, nhưng những người làm công tác bảo tàng của tỉnh Hoà Bình vẫn thấy rằng còn chưa đủ, chưa xứng tầm với quy mô ban đầu, với những giá trị của khu mộ cổ. Trong một tương lai gần Bảo tàng Hoà Bình đang chuẩn bị dự án tôn tạo tiếp cho khu mộ này. Các hạng mục dự kiến sẽ được làm đó là: xây dựng phòng trưng bày để trưng bày các hiện vật được tìm thấy trong cuộc khai quật; giới thiệu táng tục của dân tộc Mường Hoà Bình; xây dựng hệ thống bia biển giới thiệu về khu mộ, về chủ nhân của các ngôi mộ; trồng lại hệ thống cây xanh, cải tạo khuôn viên và một điều quan trọng là sẽ tiến hành điều tra sưu tầm trên diện rộng để tìm về những hòn mồ còn bị thất lạc trong nhân dân quanh vùng.

Tác giả: Nguyễn Thị Thi

Nguồn: Vietimes.com.vn

 

Chủ đề: Đại Cương | Lượt xem: 369 | Đăng bởi: hoangtu_bongdem2912_86 | Đánh giá: 0.0/0
Total comments: 0
Chỉ thành viên mới có thể thêm ý kiến.
[ Đăng ký | Đăng nhập ]
 
Trang chủ | Lý lịch! | Ghi danh | Đăng xuất | Đăng nhập 

Website được phát triển bởi các thành viên lớp 08cvhh - Khoa Ngữ Văn - Trường đại học Sư Phạm Đà Nẵng

== Website bắt đầu hoạt động từ ngày 01 tháng 5 năm 2011==