Phan Quốc Anh- Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahier ở Ninh Thuận [3] - Văn hóa - Phong tục - Bài Viết - 08 văn hóa học - Đại học Sư Phạm Đà Nẵng


Chào mừng Các bạn đã ghé thăm Website của tập thể lớp chúng tôi vào Thứ 6, ngày 09/12/2016, lúc 0:10 AM. Chúc bạn tìm được những điều bạn cần trên Website của lớp chúng tôi. Nếu Bạn muốn Download tài liệu thì xin vui lòng đăng nhập để thấy linhk, nếu có thắc mắc gì xin vui lòng liên hệ với Quản trị Website theo số điện thoại: 0985639026 hoặc Email: chinh08cvhh@gmail.com. Xin chân thành cảm ơn các bạn.
Trang chủ » Articles » Văn hóa - Phong tục

Phan Quốc Anh- Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahier ở Ninh Thuận [3]

alt
Chương 2: Người chăm Ahier ở Ninh Thuân

Người Chăm Ahiêr là một cộng đồng chiếm đa số trong cộng đồng người Chăm ở Việt Nam nói chung và ở Ninh Thuận nói riêng. Bàlamôn giáo là một tôn giáo đã du nhập vào cộng đồng người Chăm từ đầu công nguyên, là một trong những tôn giáo cổ nhất trong các tôn giáo của người Chăm và đã gắn chặt với diễn trình lịch sử văn hóa truyền thống Chăm. Trong bài viết "Vài nhận định về tín ngưỡng dân gian Chàm ở Thuận Hải”, sau khi phân tích các yếu tố tín ngưỡng tôn giáo ở các nhóm cộng đồng người Chăm theo các tôn giáo khác nhau, Lý Kim Hoa nhận định: "… Vì vậy, muốn nghiên cứu tín ngưỡng dân gian Chàm, tưởng không gì hợp lý hơn là chọn điểm ở vùng Chàm theo đạo Bàlamôn” [1]. Có thể thấy rằng: muốn nghiên cứu lịch sử văn hóa Chăm, trước hết phải nghiên cứu văn hóa người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận, bởi đây chính là nơi tích tụ, nơi "hóa thạch” nhiều yếu tố văn hóa dân gian, truyền thống Chăm. Trong di sản văn hóa truyền thống ấy, nghi lễ vòng đời chiếm một vị trí quan trọng.

Để nghiên cứu nghi lễ vòng đời người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận, trước hết chúng tôi xin khái quát những đặc điểm về địa lý khí hậu, xã hội nhân văn, tức là những cơ sở (tồn tại xã hội) hình thành nên văn hóa tộc người Chăm ở Việt Nam nói chung và người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận nói riêng.

Tuy là một tỉnh nhỏ nhưng Ninh Thuận lại là địa phương có nhiều nét riêng khá đặc thù về tự nhiên, sinh thái, xã hội và nhân văn.

 

I. KHÁI QUÁT VỀ NINH THUẬN

1. Sơ lược lịch sử tỉnh Ninh Thuận

Ninh Thuận là một tỉnh của vùng cực nam Trung Bộ đã nhiều lần thay đổi địa giới hành chính. Trong vương quốc Chăm Pa xưa, Ninh Thuận và Bình Thuận (Thuận Thành) thuộc châu Panduranga, nằm ở cực nam Trung Bộ và là một trong bốn châu (có giai đoạn là ba châu) của Chăm Pa bao gồm: Amaravati ở phía bắc từ vùng Bình Trị Thiên đến Quảng Nam; Vijaya từ Quảng Ngãi đến Bình Định; Kauthara từ Phú Yên đến Khánh Hòa và Panduranga từ Ninh Thuận đến bắc Bình Thuận{a}. So với các châu phía bắc thì châu Panduranga ít được nhắc đến trong các tư liệu lịch sử hơn. Các bộ sử Trung Quốc trước đây và các tác giả phương Tây sau này viết về Chăm Pa đều chủ yếu tập trung vào vùng phía bắc Chăm Pa như Amaravati hay Vijaya, bởi vì đó là những nơi đóng đô lâu đời của các triều đại Chăm Pa. Còn Panduranga như là một "hậu cứ” phía nam của Chiêm Thành lại ít có tư liệu đề cập tới, có lẽ vì khu vực này cách xa những khu vực kinh đô của Chăm Pa và càng xa so với những nhà viết sử Đại Việt cũng như Trung Hoa. Trong khi đó, nguồn tư liệu về lịch sử của Chăm Pa chủ yếu dựa vào sử Trung Quốc, Đại Việt và những truyền thuyết và số lượng bia ký ít ỏi của khu vực này.

Panduranga có giai đoạn là một châu cuối cùng ở phía nam Chiêm Thành, có giai đoạn là một tiểu vương quốc tự trị, cũng có lúc bị nhập vào Chân Lạp, có giai đoạn là "phiên vương”, "phó vương” của Chiêm Thành [2]. Trong thời Hoàn Vương, suốt hơn một thế kỷ (từ 738 đến 859), Panduranga dựng được một triều đại thống trị tồn tại tới năm đời vua. Sau đó: "… Suốt một thời gian dài từ năm 859 đến năm 1471, trên 6 thế kỷ, Panduranga giữ được một địa vị đặc biệt trong vương quốc Chiêm Thành. Các vua Chiêm thường dùng Panduranga làm đất phong cho thái tử, vì vậy mà Panduranga được coi như phó vương quốc, có quyền thông sứ với ngoại quốc” [3].

Năm 1693, Ninh Thuận là một phủ của Bình Thuận gồm hai huyện của Yên Phước và Tuy Phong, ranh giới từ Vĩnh Xương (Khánh Hòa) đến Hòa Đa (Bình Thuận). Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) Ninh Thuận vẫn là một phủ thuộc Bình Thuận nhưng chỉ có hai huyện là Tuy Phước và An Phước. Năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) Ninh Thuận thuộc tỉnh Khánh Hòa. Đến ngày 20 - 6 - 1901, phủ Ninh Thuận được nâng lên thành đạo Ninh Thuận và sau này thành lập tỉnh Phan Rang. Ngày 10 - 5 - 1914, phần đất có người Việt và người Chăm nhập vào tỉnh Khánh Hòa, phần đất có người thiểu số thuộc tỉnh Bình Thuận. Ngày 5 - 7 - 1922, tách phần đất có người Việt, người Chăm thành lập lại tỉnh Phan Rang gồm phủ Ninh Thuận và phủ An Phước.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tỉnh Ninh Thuận được chia thành ba huyện: Ninh Hải hạ, Ninh Hải thượng và Ninh Sơn. Tháng 6 năm 1946, tại Ninh Thuận thành lập 6 khu hành chính. Tháng 8 năm 1948, vùng 6 (Cam Ranh) được giao về Khánh Hòa và sáp nhập các vùng lại thành lập các huyện Thuận Nam, Thuận Bắc và huyện An Phước.

Sau ngày 30 - 4 - 1975, Ninh Thuận được sát nhập với Tuyên Đức, Lâm Đồng thành tỉnh Thuận Lâm. Đầu năm 1976, Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy nhập thành tỉnh Thuận Hải. Tháng 4 năm 1992, Thuận Hải lại tách ra làm hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Đến nay, Ninh Thuận có năm huyện, thị xã gồm huyện Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Sơn, Bác ái và thị xã Phan Rang - Tháp Chàm.

 

2. Đặc điểm địa lý, khí hậu

Các tài liệu lịch sử đều cho rằng cương vực lãnh thổ Chăm Pa xưa trải dài suốt duyên hải miền Trung, bao gồm cả những cao nguyên Trung phần Việt Nam ngày nay. Đặc điểm địa lý của dải đất này là: phía tây bao bọc dãy núi cao Trường Sơn hình vòng cung, phía đông là biển sâu, ở giữa là những mảnh đồng bằng nhỏ hẹp bị chia cắt bởi các dãy núi ăn ra tận biển thành các thung lũng, những con sông ngắn, thác cao không những không bồi đắp phù sa cho đồng ruộng mà còn cào đi những lớp màu mỡ của đất đai đổ ra cửa biển, đồng thời tạo ra các vũng, vịnh thuận lợi cho việc hình thành cảng thị thông thương với hải đảo và các tàu thuyền quốc tế qua lại biển Chăm Pa, cũng là điều kiện thuận lợi cho những đội quân thủy chiến của Chăm Pa xưa. GS. Lê Bá Thảo trong công trình Việt Nam - lãnh thổ và các vùng địa lý có viết: "Do Nam Trung Bộ được cấu tạo chủ yếu bởi sườn đông dãy Trường Sơn hay cao nguyên, các đồng bằng thì nhỏ hẹp, bờ biển thì bị chia cắt thành nhiều vũng, vịnh… Những đồng bằng ở cực Nam Trung Bộ đều nhỏ hẹp và gần như chỉ là những thành tạo cho sông và biển bồi đắp bám vào các thung lũng chân núi (đồng bằng Ninh Hòa chỉ có 100km2, đồng bằng Nha Trang - đồng bằng rộng nhất, chỉ 135km2, các đồng bằng của cả tỉnh Ninh Thuận cộng lại: 520km2,, của cả Bình Thuận: 306 km2” [4].

GS. Trần Quốc Vượng, với cái nhìn địa - văn hóa về cực Nam Trung Bộ cũng nhận xét: "Nói đến miền Trung, ai cũng biết đấy là miền có địa thế hẹp chiều tây - đông, dằng dặc chiều bắc - nam, phía tây là dãy Trường Sơn, từng đoạn, từng dải núi - đồi này lại đâm ngang ra biển Đông, chia cắt miền Trung thành từng vùng, xứ, tỉnh. Đi từ Bắc vô Nam là ta cứ lần lượt vượt qua "một đèo, một đèo lại một đèo”: đèo Ba Dội, đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cù Mông, đèo Cả…” [5].

Nối giữa các vùng là các đèo để vượt núi. Nhưng từ xa xưa, giao thông chủ yếu là bằng đường biển và lịch sử đã chứng minh rằng, những cuộc chiến tranh ngày xưa chủ yếu là thủy chiến. Đường bộ ngày xưa chỉ là những đường mòn trèo đèo lội suối để khai thác lâm sản quý như kỳ nam, trầm hương, ngà voi. Vì vậy, sự đi lại giữa các vùng, xứ, tỉnh là vô cùng trắc trở. Việc cai trị của các vương triều đối với các vùng vì thế cũng rất khó khăn. Các thủ lĩnh địa phương thường xuyên nổi dậy chống lại triều đình để giành độc lập, tự trị, hình thành nên những tiểu quốc.

Mãi vào những thế kỷ sau (năm 1695), nhà sư Thích Đại Sán, trong Hải ngoại ký sự còn ghi nhận về sự cách trở giao thông của xứ Đàng Trong: "Các thị trấn ở đây thường quay lưng vào núi và ngó ra biển, không có đường giao thông giữa hai phủ với nhau. ở bất cứ đâu, khi người ta vào một cảng là bước vào một phủ. Nếu muốn từ một phủ này sang một phủ khác, người ta bắt buộc phải rời cảng mình đang ở, xuống thuyền ra biển dọc theo núi và vào một hải cảng khác” [6].

Chính vì những đặc điểm địa lý như vậy, như các nhà khoa học nhận định, vương quốc Chăm Pa xưa không là một khối thống nhất mà là một kiểu "Mandala” gồm nhiều tiểu quốc đa tộc: "Văn minh Chăm Pa là sợi dây liên kết mà sử sách Trung Hoa và Đại Việt gọi bằng những cái tên như Lâm ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành, với các vùng lãnh thổ - cũng có thể là các "tiểu quốc” xuất hiện trong sử sách Hoa - Việt dưới những cái tên như: Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, Châu Ô, Châu Lý, Chiêm Động, Cổ Lũy, Thi Bị, Thượng Nguyên, Bônđàlăng… hay trong bia ký Phạn - Chàm với những cái tên Chăm Papura, Amaravati, Vijaya, Panduranga, Virrapura v.v…” [7].

Khi viết về Chăm Pa, R.Scupin đã nhận xét: "Chăm Pa cũng như những chính thể chịu ảnh hưởng ấn Độ khác ở Đông Nam á, nó không phải là một quốc gia quân chủ tập quyền như nhà nước Trung Hoa mà giống như những quốc gia nhà hát "theatre states” với những ông vua kiểm soát các vùng địa phương với sự ràng buộc tế nhị đối với những khu vực ngoại vi xa xôi mà ở đó biểu lộ lòng trung thành của họ qua việc phục vụ những nghi lễ hoàng gia, những lễ hội và những cuộc trình diễn văn hóa. Và do vậy, "những quốc gia nhà hát” thì dễ vỡ ra từng mảnh, và những vùng đất Chăm Pa thì đôi khi phân chia ra nhiều hơn là thống nhất lại” [8].

Phương Đình Nguyễn Văn Siêu trong Đại Việt địa dư toàn biên, ở quyển 4 Việc cũ ở Thuận Thành có viết: "Xét đất Chiêm Thành cũ, từ Quảng Bình đến Bình Thuận… đất nước ấy có 27 xứ, 5 phủ, 22 huyện, phía đông đến biển, phía nam đến nước Chân Lạp, phía tây đến núi Lê Nhân, phía bắc đến đất A Bản Thích Bổ” [9].

Panduranga có nhiều vũng, vịnh đẹp và lợi hại như vịnh Cam Ranh, vịnh Vĩnh Hy, cảng Hòn Đỏ, mũi Panđarang (mũi Dinh), vịnh Cà Ná v.v… Đó là những cửa biển thông thương với các vùng trong vương quốc, với các nước Nam Đảo và các khu vực khác trên thế giới. Đây là điều kiện để nền văn hóa mở của Chăm Pa giao lưu tiếp xúc với văn hóa các nước trong khu vực Đông Nam á, trong đó có văn hóa Hồi giáo tiếp nhận từ Malaysia, Indonesia. Panduranga xưa cũng như Ninh Thuận ngày nay là một vùng đặc thù về địa văn hóa. Nhà địa lý học Dufeil gọi là "miền sa thảo độc nhất Đông Nam á châu” [10].

Ninh Thuận có diện tích khoảng 3.430km2 nằm vào khoảng 11008’14’’ đến 12009’45’’ vĩ bắc và 108033’08’’ đến 109014’25’’ kinh đông. Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, nam giáp tỉnh Bình Thuận, đông giáp biển Đông, tây giáp tỉnh Lâm Đồng. Nguyễn Đình Tư trong tập khảo cứu Non nước Ninh Thuận đã miêu tả Ninh Thuận như sau: "Nhìn trên bản đồ, Ninh Thuận trông như một hình bình hành, hai góc nhọn ở phía Tây Bắc và Đông Nam, chiều dài các cạnh gần bằng nhau, khoảng trên dưới 60km. Trên đại thể, địa thế Ninh Thuận giống như một cái chảo. Ba phía bắc - tây - nam và một nửa phía tây - đông bị núi bao bọc chắn gió, chỉ còn một nửa phía Đông, từ Sơn Hải đến Ninh Chữ là thông ra biển, ở giữa là đồng bằng nhỏ hẹp…” [11].

Ninh Thuận là một tỉnh đa dạng địa hình: miền núi, đồng bằng, ven biển. Đồi núi ở Ninh Thuận chiếm 63% diện tích, đồi gò bán sơn địa chiếm 14,4%, đồng bằng ven biển chiếm 22,4% lãnh thổ. Vì núi bao quanh đồng bằng đều khá cao, phía bắc có những ngọn núi cao đến 1.113m, phía nam có núi cao tới 1.650m và phía tây là cao nguyên Lâm Đồng với những dãy núi cao tới 1.978m nên Ninh Thuận có một địa hình như một bức thành thiên tạo hình vòng cung bằng núi cao, chỉ có một cửa mở ra biển.

Bờ biển Ninh Thuận dài 105km, vùng lãnh hải 18.000km2, có các cửa biển chính như Vĩnh Hy, Khánh Hải, Đông Hải, và Cà Ná. Nhìn lên bản đồ Ninh Thuận, chúng ta thấy bờ biển theo chiều những đường thẳng gãy, mỗi chỗ gãy như vậy được đánh dấu bằng một mũi đá nhô đầu ra biển. Nhiều đoạn bờ biển nằm sát ngay núi, có những ngọn núi cao tới hơn 1.000m và hình thành nên những con suối nước ngọt chảy từ trên núi xuống, từ trong núi ra tạo nên những mạch nước ngọt ngầm ngay bờ biển. Đây cũng là lý do giải thích vì sao dọc bờ biển lại có những giếng cổ Chăm (giếng "Hời”) mà xa xưa là nguồn cung cấp nước ngọt cho các tàu thuyền đi biển qua lại vùng biển Chăm Pa.

Ninh Thuận có hai mùa: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau. Nhưng do địa thế khá đặc biệt nên dù mùa mưa kéo dài, Ninh Thuận vẫn là tỉnh khô hạn. Những dãy núi cao bao quanh đã trở thành những bức bình phong chắn những luồng gió mùa Đông - Bắc và Tây - Nam mang mây và mưa tới Ninh Thuận. Vì vậy, vùng trời Ninh Thuận luôn trong xanh, nắng chói chang và có lượng mưa thấp nhất toàn quốc. Mỗi năm Ninh Thuận chỉ có trên dưới 50 ngày mưa. Lượng mưa trung bình hàng năm (theo số liệu ghi trong Non nước Ninh Thuận của Nguyễn Đình Tư), chỉ đạt 695mm{b}. Những số liệu về khí hậu đo được sau này cũng không khác số liệu trên là mấy, sự xê dịch không đáng kể với lượng mưa trung bình đo được năm 1999 là 705mm.

Ngược lại, những khe núi hẹp và cửa biển hẹp lại tạo điều kiện cho những luồng gió thổi mạnh vào lòng chảo đồng bằng Ninh Thuận, cộng với khí hậu khô nóng nên về mùa khô, cả vùng Ninh Thuận gió cát mịt mù trên những cánh đồng khô hạn, nắng cháy như sa mạc. GS. Lê Bá Thảo nhận xét về khí hậu của cực nam Trung Bộ như sau: Có thể nói bắt đầu từ cực nam tỉnh Khánh Hòa cho đến cuối tỉnh Bình Thuận, biển khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ướt đã bị thay thế bởi biển khí hậu nhiệt đới khô. Người ta cũng có thể coi đấy là một "lõm khí hậu đặc sắc ở ven bờ biển”.

Tuy lượng mưa trung bình ít nhất toàn quốc, nhưng cá biệt có những năm, khi thổi qua biển Việt Nam, một phần gió của các trận bão ghé vào cửa biển Ninh Thuận mang theo mưa, nên có năm mưa rất lớn, nước sông dâng cao, cộng thêm nước lũ từ trên cao nguyên Lâm Đồng đổ về tạo nên những trận lụt lớn. Trận lụt năm Giáp Thìn (1964) được ghi nhận là trận lụt kinh khủng nhất từ hàng trăm năm nay, nước dâng lên ở thị xã Phan Rang cao tới 3 mét. Có những thời điểm về mùa mưa, vùng Ninh Thuận rất ít mưa nhưng lại phải chịu những trận lũ từ cao nguyên Lâm Đồng đổ về gây lũ quét, phá hoại cây trồng. Do sông ngắn, thác cao nên những cơn lũ không những không bồi đắp mà còn cào đi phù sa của đồng bằng nhỏ hẹp. Một bên núi quá cao, một bên biển rất sâu, trong khi chỉ cách nhau vài chục cây số ở Đà Lạt rất mát mẻ và ẩm ướt thì Phan Rang lại rất khô nóng.

Dựa vào nguồn tài liệu trong và ngoài nước, các nhà nghiên cứu Chăm Pa cho rằng ngày xưa Chăm Pa không phải là một quốc gia thống nhất mà có nhiều giai đoạn tồn tại nhiều tiểu vương quốc độc lập. GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: "Giới sử học quốc tế và Việt Nam hiện nay coi Chăm Pa cũng như Chân Lạp là một thứ mandala gồm nhiều tiểu vương quốc phân bố theo vùng ở miền Trung Việt Nam. Có một tổng thể văn hóa chung mà cũng có sắc thái văn hóa vùng” [12].

Panduranga là vùng đất cực nam của Chăm Pa xưa, xa xôi và cách trở đối với các kinh đô của vương triều như Trà Kiệu của Amaravati (Quảng Nam), thành Đồ Bàn của Vijaya (Bình Định). Vì vậy, về địa chính trị, như đã nêu ở phần trên, Panduranga là một vùng lãnh thổ tương đối độc lập, có lúc là tiểu vương quốc, có khi là phiên vương của Chăm Pa. Là vùng đất biên ải phía nam của Chăm Pa, Panduranga luôn phải đối đầu với các cuộc chiến tranh với Phù Nam, Chân Lạp và cả người Mạ ở phía tây nam. Panduranga đã từng là vùng đất bị người Khơ Me chiếm đóng hàng nhiều chục năm, đã từng có khi giao hảo, liên minh với người Mạ và sau đó lại xung đột với người Mạ [13]. Như vậy, Panduranga là châu cuối cùng còn lại của Chăm Pa, là nơi còn lại của cộng đồng người Chăm, trong đó đa số là người Chăm Ahiêr, đó là người "Chăm jat - Chăm gốc”, mang trên mình số phận lịch sử. Cùng với người Chăm Awal, người Chăm Ahiêr đang là một trong những chủ nhân lưu giữ những gì còn lại của văn hóa Chăm, là nơi tích tụ văn hóa Chăm tồn tại qua hàng nghìn năm. Chỉ còn ở đó, đền tháp Chăm Pa vẫn được người Chăm thờ cúng, là nơi vẫn diễn ra những lễ hội truyền thống.

Những đặc điểm địa lý, khí hậu như vậy đã làm cho Ninh Thuận trở thành một vùng khí hậu đặc thù, khu biệt với các vùng khác ở Việt Nam, ít nhiều góp phần làm cho Ninh Thuận có những nét khá riêng về kinh tế, chính trị và văn hóa.

 

3. Dân số, đặc điểm dân cư, dân tộc

Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận năm 2003, dân số tỉnh Ninh Thuận có 503.000 người cư trú ở 5 huyện, thị xã với 44 xã, 11 phường, 3 thị trấn, 265 thôn{c}. Ngoài người Việt với dân số 393.000 người chiếm 78,3%, hiện nay có 26 dân tộc ít người với tổng số 19.034 hộ với 111.850 người. Trong đó, dân tộc Chăm 61.359 người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh, dân tộc Raglai có 47.596 người chiếm 9,4%. Còn lại 24 dân tộc thiểu số khác với số lượng không nhiều (3.119 người){d}.

Tuy là một tỉnh nhỏ nhưng ở Ninh Thuận hiện có 27 dân tộc đang sinh sống. Trong đó có hai dân tộc thiểu số có số dân khá lớn là người Chăm (61.359 người) và Raglai (47.596 người). Ninh Thuận cũng là tỉnh hội đủ các tôn giáo lớn trên thế giới mà ít có địa phương nào ở Việt Nam có được là Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Phật giáo, Hồi giáo, Bàlamôn giáo. Trong đó, Bàlamôn giáo trong người Chăm chiếm tỷ lệ gần 60% số người Chăm và là tôn giáo cổ xưa nhất, du nhập sớm nhất vào Đông Dương.

Người Việt ở Ninh Thuận sống bằng hai nghề chính là ngư nghiệp và nông nghiệp. Các làng người Việt làm nghề đánh cá biển trải dọc suốt 105km bờ biển từ thôn Bình Tiên, xã Công Hải (nam vịnh Cam Ranh) đến vịnh Cà Ná. Đây là cộng đồng ngư dân có nguồn gốc từ Nam - Ngãi - Bình - Phú. Họ vẫn giữ được những nét văn hóa dân gian của cư dân ven biển Trung Bộ như tục thờ cá Ông, hò và múa bả trạo. Các làng người Việt làm nông nghiệp đa phần ở đồng bằng, trồng lúa nước, nho, hành tỏi và những năm gần đây có thêm nghề chăn nuôi bò, dê, cừu, nuôi tôm giống, sản xuất muối v.v…

Người Chăm ở đồng bằng, từ lâu đời sinh sống bằng nông nghiệp, nghề chính là trồng lúa nước, một số vùng trồng nho, chăn nuôi bò, dê và cừu. Kinh tế của vùng nông thôn người Việt cũng như người Chăm cũng còn nhiều khó khăn, phụ thuộc vào thời tiết, nguyên nhân chính là không chủ động nước do hệ thống thuỷ lợi chưa hoàn thiện. Ngày nay, người Chăm ở Ninh Thuận không chỉ còn trồng lúa mà đã phát triển cơ cấu công nông nghiệp, trồng nho, cây công nghiệp và phát triển chăn nuôi. Nuôi cừu, bò và dê là một trong những thế mạnh của nông dân Ninh Thuận nói chung và của người Chăm nói riêng. ở Ninh Thuận còn lưu giữ được hai làng nghề nổi tiếng là làng gốm Chăm cổ truyền ở palei Hamu Chrawk (Bầu Trúc) và làng nghề dệt thổ cẩm ở palei Chaklaing (Mỹ Nghiệp). Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng và chính quyền địa phương cùng với bà con Chăm đã tìm mọi cách để duy trì, bảo tồn và phát triển hai làng nghề độc đáo của người Chăm, bởi vì đây không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà cả về văn hóa.

Người Raglai sinh sống ở miền núi, trồng lúa rẫy, bắp, đậu và chăn nuôi bò, dê. Trước đây, người Raglai sống du canh du cư trên các rẻo núi cao, những năm gần đây đã định canh định cư và đang diễn ra quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa.

Kinh tế - văn hóa - xã hội của vùng đồng bào Chăm từ sau khi đất nước đổi mới (1986), nhất là những năm gần đây, phát triển rõ rệt. Hạ tầng cơ sở được xây dựng, 100% các palei (làng) Chăm đã có điện, nước sạch nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, đường giao thông đã hoàn chỉnh, toàn bộ các palei đã được phủ sóng phát thanh truyền hình, 100% các xã vùng đồng bào Chăm đều đã có trường học, trạm y tế. ở các palei Chăm hôm nay, hầu hết có nhà xây kiên cố, có nhiều nhà tầng. Đa số các gia đình Chăm đã có xe máy, tivi. Một số gia đình khá giả đã có tủ lạnh, máy giặt, trang trí nội thất khá hiện đại. Đội ngũ trí thức người Chăm ngày càng đông đảo. Nhưng, để hòa nhập vào dòng chảy của sự phát triển, trong văn hóa người Chăm cũng đang diễn ra quá trình giao thoa mạnh, những yếu tố văn hóa truyền thống đang mất đi, thay vào đó là những yếu tố văn hóa của thời hiện đại.

 

II. Người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận

1. Đôi nét về người Chăm

Người Chăm là một trong năm tộc người thuộc nhóm ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo (Malayo - Polinésien) sinh sống ở miền Trung - Tây Nguyên (Chăm, Raglai, Chu Ru, Gia Rai, Ê Đê). Trong các công trình nghiên cứu về dân tộc học từ xưa đến nay, còn tồn tại những ý kiến khác nhau về nguồn gốc người Chăm cũng như các tộc người trong ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo ở Việt Nam: Hoặc là người di cư từ thế giới đảo Đông Nam á đến, hoặc là người di cư từ các quần đảo nam Trung Quốc xuống vùng đất liền Đông Dương rồi từ đó di cư ra hải đảo Đông Nam á [14]. Một số nhà khoa học Xô Viết cũ cho rằng người dân Nam Đảo có nguồn gốc từ dân Bách Việt và họ xuống phía nam bằng hai con đường, đường thứ nhất qua Philippine, Indonesia tới tận châu Đại Dương, một bộ phận trở lại lục địa vào Malacca và Việt Nam. Có thể người Chăm và một số cư dân Nam Đảo là sự hòa huyết giữa ấn Độ và Đông Nam á. Hoàng Tâm Xuyên có viết: "… Nhưng do những nguyên nhân sâu xa của lịch sử và truyền thống văn hóa, trong cư dân Đông Nam á còn có khá đông người gốc ấn Độ” [15].

Sau khi các nhà khảo cổ học tìm thấy những di chỉ khảo cổ Sa Huỳnh đầu thế kỷ XX với niên đại từ 4000 năm đến 2000 năm trước công nguyên, các nhà khoa học giả thiết rằng chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh có thể là tổ tiên của người Chăm. Những tác giả trong công trình Văn hóa Chăm đã dành một chương nói về văn hóa Sa Huỳnh và gọi đó là văn hóa tiền Chăm Pa [16].

Từ những năm đầu thế kỷ XX, G. Maspéro, trong công trình Vương quốc Chàm đã có những nhận xét về nguồn gốc người Chăm như sau: "Có lẽ nguồn gốc người Chàm là người Malayo - Polinésien… Vì thế cho nên nhận dạng người Chàm do những du khách đầu tiên Trung Hoa miêu tả là: da đen, mắt sâu, mũi hếch, tóc quăn…” [17].

Tuy nhiên, nhận xét trên chưa thật chuẩn xác. GS. Trần Quốc Vượng có viết: "Văn hóa Chăm vẫn còn đây, sống động ở Ninh Thuận… những dòng họ Ôn, Ma, Trà, Chế… với những con người da đồng hun, mũi cao, mắt sâu, tóc xoăn, những huyền tích, những lễ hội Katê…” [18]. Mặc dù ý kiến đã có nhiều, nhưng cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất trong việc xác định nguồn gốc tộc người Chăm.

Theo các thư tịch cổ Trung Hoa, các nhà khoa học hiện nay đều cho rằng vương quốc Chăm Pa được hình thành từ năm 192 [19]. Trải qua quá trình lịch sử, với các tên gọi Lâm ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành, nhà nước Chăm Pa đã trải qua rất nhiều thăng trầm, ảnh hưởng lớn đến diễn trình lịch sử văn hóa Chăm.

2. Người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng Chăm Pa xưa là một nước thưa dân. Các tư liệu không cho con số chính xác về dân số người Chăm trong lịch sử. Tống sử viết là Chăm Pa có 38 huyện và dưới 30 ngàn gia đình vào thời Harrivarman III (1704 - 1810). Theo Đại Nam nhất thống chí, vào thập niên 1810, tổng số đinh của Phú Yên là 7.651, của Khánh Hòa là 5.000 và Bình Thuận (Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay) là 9.200. Đây có lẽ chỉ là số đinh dân đồng bằng để đóng thuế bạ của cả người Chăm và người Việt. Như vậy, dân số Chăm trước đây cũng không nhiều…

Năm 1969, theo số liệu điều tra dân số, người Chăm ở Ninh Thuận - Bình Thuận là 33.600 người, đến trước năm 1975 là 40.000 người.

Theo kết quả thống kê năm 2002, người Chăm ở Ninh Thuận có khoảng trên 61 nghìn người, cư trú tương đối tập trung ở 22 làng thuộc 12 xã ở 4 huyện, thị xã, đông nhất là ở huyện Ninh Phước với trên 48 nghìn người, ở huyện Ninh Hải có trên 10 nghìn người, ở huyện Ninh Sơn có khoảng 15 nghìn người, ở thị xã Phan Rang - Tháp Chàm có 1.300 người

 ở Ninh Thuận

Người Chăm Ahiêr có khoảng 38 nghìn người, người Chăm awal (Bàni - Hồi giáo cũ) có khoảng 20 nghìn người, người Chăm theo Hồi giáo mới (Islam) có khoảng 2 nghìn người, theo Công giáo và Tin Lành khoảng 700 người.

Người Chăm Ahiêr cư trú ở 16 làng, trong đó có một làng sống xen cả Bàlamôn lẫn Bàni (làng Phú Nhuận). Người Chăm Bàni sống tập trung ở 7 làng, trong đó có một số làng có cả người Chăm theo Bàni và người Chăm theo Islam.

Trừ các tôn giáo mới du nhập sau này với số lượng không lớn, người Chăm ở Ninh Thuận hiện nay chịu ảnh hưởng hai tôn giáo chính là Bàlamôn (ấn Độ giáo) và Bàni (Hồi giáo bản địa hóa). Ngoài ra còn có một bộ phận người Chăm theo đạo Islam nhưng không nhiều (khoảng 2.000 tín đồ). Tên gọi thì như vậy, nhưng, đã từ lâu, hai tôn giáo Bàlamôn và Bàni tồn tại độc lập, không có mối quan hệ với nước ngoài và, qua quá trình lịch sử, cả hai tôn giáo này đã bị bản địa hóa, trở thành một kiểu tôn giáo địa phương.

Gần 38.000 người Chăm Ahiêr được chia theo 3 khu vực đền tháp thờ tự, được phân chia theo khu vực cộng đồng tôn giáo. Mỗi khu vực cộng đồng tôn giáo lại có hệ thống chức sắc chịu trách nhiệm về cộng đồng tín đồ của khu vực mình cai quản. Hiện nay ở Ninh Thuận có 37 vị pà xế (Passhe - chức sắc Bàlamôn), trong đó có 3 vị cả sư pô xà (Po dhia) [20], phụ trách 3 khu vực cộng đồng tín đồ và chịu trách nhiệm cúng lễ ở 3 khu vực đền tháp như sau:

+ Khu vực tháp Pô Rômê (Po Rame - làng Hậu Sanh) có 6 làng thuộc huyện Ninh Phước gồm: Hậu Sanh, Hiếu Thiện, Vụ Bổn, Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ, Phước Lập, khu vực này do cả sư Hán Bằng phụ trách.

+ Khu vực đền thờ "mẹ xứ sở” Pô Inư Nưgar [21] gồm 3 làng Hữu Đức, Như Bình và Bầu Trúc, do cả sư Hải Quý phụ trách.

+ Khu vực tháp Pô Klongirai (Po Klaung Girai - Phan Rang) có 7 làng gồm: Hiếu Lễ, Chắt Thường, Phú Nhuận, Hoài Trung, Phước Đồng và Thành ý do cả sư Trượng Vân phụ trách.

Ngoài ra, còn một khu vực đền Pô Bin Thuôr (Po Bin Swơr - thôn Bĩnh Nghĩa, xã Phương Hải, huyện Ninh Hải) chỉ có một làng và không có chức sắc Bàlamôn. Mọi hoạt động tôn giáo đều do Ban phong tục của làng đảm nhiệm. Mỗi khi có những nghi lễ cần đến chức sắc Bàlamôn đều phải mời các chức sắc từ khu vực tháp Pô Klong Girai về làm lễ. Vì vậy, có thể quy Bĩnh Nghĩa về khu vực tôn giáo của tháp Pô Klong Girai.

Người Chăm ở Ninh Thuận còn gọi những người theo đạo Bàlamôn là Cam Jat - Chăm Chuh{e}. Người Chăm còn gọi người Chăm theo Bàlamôn là "Chăm” (Cam, để phân biệt với Bàni), và coi Chăm Jat là Chăm gốc{f}; còn tên gọi Chăm Chuh có nghĩa là "Chăm thiêu” bởi "Chuh” theo tiếng Chăm có nghĩa là thiêu, (khi chết làm lễ hỏa táng, để phân biệt với người Chăm Bàni, khi chết thì chôn).

Người Chăm Ahiêr hiện còn có một bộ phận khoảng 15.000 người sống ở huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Về cơ bản, văn hóa của họ tương đồng với văn hóa của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận.

Cộng đồng người Chăm lớn thứ hai ở Ninh Thuận là cộng đồng người Chăm Awal (người Chăm Bàni hay còn gọi là người Chăm Hồi giáo cũ - Hồi giáo đã bản địa hóa). Khi Hồi giáo du nhập vào Chăm Pa (khoảng sau thế kỷ X), mà mạnh mẽ nhất vào khoảng thế kỷ XIV, XV, người Chăm đã theo Bàlamôn giáo rồi. Một bộ phận người Chăm bỏ Bàlamôn giáo để theo Hồi giáo và đã diễn ra xung đột lâu dài giữa hai cộng đồng tôn giáo. Thậm chí, những người theo Hồi giáo Bàni không được coi là "Chăm” (nên người Chăm vẫn gọi người Chăm ảnh hưởng Bàlamôn giáo là bên "Chăm”, bên "Ahiêr”), trai gái hai bên không được kết hôn. Về sau, một quan niệm được đưa ra để đoàn kết hai tôn giáo lại. Đó là quan niệm "yin - yang” (âm - dương). Người Chăm thuộc Ahiêr được coi là cộng đồng "dương”, cộng đồng người Chăm thuộc Awal được coi là cộng đồng "âm”, với quan niệm nhất thể lưỡng hợp, tuy hai mà một, không thể tách rời. Từ đó người Chăm có câu: Tajuh halâu, Klâu bimong (Bảy chùa - Ba tháp). Câu thành ngữ này có ngụ ý rằng cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận có 7 thánh đường của người Chăm Bàni (Awal) và 3 ngôi tháp của người Chăm Bàlamôn (Ahiêr) đều là nơi thờ thần linh của người Chăm 2 bên, cộng đồng người Chăm của 7 chùa, 3 tháp là một.

Theo truyền thống, cứ 3 năm một lần, chức sắc tôn giáo hai bên lại tổ chức lễ Suk yơng vào ngày thứ sáu, lễ được thực hiện luân chuyển qua 7 thánh đường. Đây là "hội nghị” chức sắc tôn giáo hai bên Ahiêr và Awal để bàn thống nhất về lịch pháp, điều chỉnh những sai sót trong việc thực hiện lễ tục mà hai bên cùng thực hiện (nhiều lễ nghi của người Chăm Ahiêr có sự tham gia của chức sắc bên Awal, khai lễ trong lễ hội Rija).

Chủ đề: Văn hóa - Phong tục | Đăng bởi: hoangtu_bongdem2912_86 (15/08/2011)
Lượt xem: 340 | Đánh giá: 0.0/0
Tổng số ý kiến: 0
Chỉ thành viên mới có thể thêm các ý kiến.
[ Đăng ký | Đăng nhập ]
 
Trang chủ | Lý lịch! | Ghi danh | Đăng xuất | Đăng nhập 

Website được phát triển bởi các thành viên lớp 08cvhh - Khoa Ngữ Văn - Trường đại học Sư Phạm Đà Nẵng

== Website bắt đầu hoạt động từ ngày 01 tháng 5 năm 2011==