Lễ Ok Om Bôk Và Hội Đua Ghe Ngo - 11 June 2011 - 08 văn hóa học - Đại học Sư Phạm Đà Nẵng


Chào mừng Các bạn đã ghé thăm Website của tập thể lớp chúng tôi vào Thứ 7, ngày 03/12/2016, lúc 5:39 PM. Chúc bạn tìm được những điều bạn cần trên Website của lớp chúng tôi. Nếu Bạn muốn Download tài liệu thì xin vui lòng đăng nhập để thấy linhk, nếu có thắc mắc gì xin vui lòng liên hệ với Quản trị Website theo số điện thoại: 0985639026 hoặc Email: chinh08cvhh@gmail.com. Xin chân thành cảm ơn các bạn.
Trang chủ » 2011 » Tháng 06 » 11 » Lễ Ok Om Bôk Và Hội Đua Ghe Ngo
9:18 PM
Lễ Ok Om Bôk Và Hội Đua Ghe Ngo

Lễ Ok Om Bôk Và Hội Đua Ghe Ngo

Dân tộc : khmer Nam Bộ
Thờ : Thần mặt trăng
Thời gian : rằm tháng 12 (Phật lịch khmer)
Địa điểm : lễ cử hành tại các chùa và gia đình
Đặc điểm : - Thả đèn trên nước
- Đua ghe ngô tại Sóc Trăng (các tỉnh về dự)

I. LỄ OK OM BÔK :

Lễ Ok Om Bôk , tiếng Khmer có tên khác là lễ Cúng Trăng (vì tổ chức vào đúng đêm hôm trăng rằm và bắt đầu từ khi trăng lên) của người Khmer Nam Bộ sống ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: Cần Thơ, Sóc Trăng, Minh Hải cũ, Kiên Giang.

Xuất phát từ một tín ngưỡng dân gian cho rằng mặt trăng là thần bảo vệ mùa màng, người Khmer hằng năm cứ đến ngày rằm tháng 12 theo Phật lịch, tương ứng tháng 10 âm lịch, tổ chức lễ Ok Om Bôk để tỏ lòng biết ơn vị thần đã làm cho mùa màng tốt tươi, mang lại lương thực dồi dào cho con người. Đặc điểm của nghi lễ này là sự có mặt của những em nhỏ, được người ta lấy những hạt cốm dẹt đút vào miệng để "lấy khước”.

Vào lúc này, thời tiết bắt đầu khô ráo, gió chướng thổi nhẹ, lúa ngoài đồng bắt đầu chín lốm đốm. Đặc biệt đối với tuổi trẻ, vào những ngày này trai gái thường rủ nhau đi chơi, ngắm trăng, tâm sự và tỏ tình.

Để chuẩn bị cho đêm lễ cúng Trăng người ta đào lỗ trước sân nhà, hay sân chùa (nơi dự định cúng lễ) để chôn hai cây trụ tre, cây tầm vông, bên trên có một cây xà ngang dài độ 3 mét, giống như một cổng chào có trang trí hoa lá. Dưới cổng có kê một chiếc bàn phủ vải đẹp, bên trên để một lọ hoa, nhang, đèn và các thứ cúng gồm có trái cây như chuối, bưởi, cam, thơm cùng các loại củ có chất bột như khoai lang, khoai mì, khoai môn và bánh kẹo, đặc biệt là món cốm dẹt được chế biến từ những bông nếp vừa chín đầu mùa lấy từ ngoài đồng về. Mọi người từ già đến trẻ đều mặc đẹp, dọn dẹp trang hoàng nhà cửa để đón trăng.

Buổi tối, khi ông trăng rằm to như chiếc đĩa màu vàng đỏ và vừa nhô lên khỏi ngọn cây thì dân chúng đã tề tựu đông đủ tại nơi khuôn viên chùa, hay ở nơi sân nhà, hoặc nhiều nhà cùng tập hợp nhau lại tại một địa điểm rộng rãi, thuận lợi nhất để chuẩn bị lễ cúng. Bà con đến dự lễ được mời ngồi trên những chiếc chiếu hay tám đệm trải sẵn trên đất, hai tay cung kính chắp lại để ra trước mặt hướng về phía mặt trăng đang lên. Một cụ già làm chủ lễ đứng ra đọc lời khấn, nói lên lòng biết ơn của con người đối với thần, xin thần tiếp nhận những lễ vật và cầu mong trong những ngày tháng tới, thần Trăng sẽ đem lại cho mọi nhà, mọi người những niềm vui mới: sức khoẻ, thời tiết tốt đẹp, mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, cuộc sống thái bình, no ấm.

Lễ xong, khi tuần hương vừa cháy hết, người già gọi các em bé lại ngồi xếp bằng thành hàng, hai tay chắp lại, rồi từ từ bốc những nhúm cốm đét vào mồm từng em một, tay kia đấm nhè nhẹ sau lưng, và hỏi:

Các cháu ngoan của ông (hoặc bà) năm nay muốn gì?

Câu trả lời của các cháu rất đa dạng. Có cháu mong ước có nhiều vàng bạc, châu báu, trâu bò. Có cháu mong sau này có vợ đẹp, giàu sang. Có cháu muốn được ăn no, được học hành...

Năm nào, những câu trả lời của đám trẻ suôn sẻ, lễ độ, rành rọt thì người lớn coi như đó là những tín hiệu của điềm lành đối với dân trong sóc, trong xã vào những ngày sắp đến. Kế đó, mọi người hạ mâm cúng cùng nhau hưởng lễ vật, vừa ăn vừa kể chuyện sản xuất, chuyện làng xóm thay đổi... Trẻ em, thanh niên thì vui chơi, múa hát. Nếu có khách từ xa đến dự, chủ nhà gói một ít cốm dẹt để làm quà.

Ở những nơi thị tứ, thị trấn vào đêm lễ này, người ta đỗ ra đường đông nghẹt để vui lễ cúng Trăng. Tham gia lễ này, không chỉ có người Khmer mà còn có đông đảo người Hoa, người Việt cùng vui chung. Chỗ này tổ chức đấu võ, kéo co, chỗ kia biểu diễn văn nghệ như hát Dùkê, hát tập thể Romvông, Romxaravan, Lawmteo, Aday... Những đêm văn nghệ, vui chơi diễn ra trong tiếng nhạc, tiếng trống rộn ràng, dồn dập, có khi kéo dài suốt đêm, cuốn hút hàng ngàn người tham gia.

Trong khi đó, ở các ngôi chùa Khmer, người ta tổ chức thả đèn nước trên sông, rạch hoặc ao hồ và thả đèn giấy bay theo gió. Đèn nước được kết bằng thân bẹ chuối trắng theo mô hình ngôi đền nhỏ, có trang trí hoa cờ, phướng, bên trong bày một ít lễ vật trái cây, bánh kẹo, muối...Mở đầu, một vị sư thắp đèn cầy và nhang, rồi hướng dẫn mọi người đọc kinh tưởng nhớ đến đức Phật. Sau đó, người ta rước đèn ra bến nước hoặc ao hồ gần đó, có đoàn múa trống xà dăm đi theo biểu diễn. Đến địa điểm đã định, những chiếc bè chuối có nhang đèn cháy sáng được đưa xuống nước và đẩy ra xa. Những chiếc đèn từ từ trôi theo dòng nước, trong khi tiếng hoan hô, cười nói của đám dông đứng trên bờ vẫn rộn lên không dứt.

Theo quan niệm của người Khmer, tục thả đèn nước nhằm xua tan bóng tối, sự ô uế và buồn bã, giống như lễ tống ôn, tống dịch của người Việt, để chỉ còn lại sự bình yên, niềm vui và tình đoàn kết xóm làng.

Là một dạng lễ hội nông nghiệp, lễ Cúng Trăng với những hy vọng điều lành, may mắn và hạnh phúc phản ánh được đặc tính, tâm lý chất phác và hồn nhiên của người nông dân Khmer cùng những ước mơ bình dị: mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, mọi người ấm no, hạnh phúc.

Sự Tích Hội Đua Ghe Ngo Khmer Nam Bộ

 

 

Dân gian kể rằng, đã lâu lắm, cách đây bảy, tám trăm năm về trước, ghe Ngo đã xuất hiện ở đồng bằng này. Lúc đó vùng này còn hoang dại lắm, đất ẩm thấp, cây rậm rạp, có nhiều rắn rết và thú dữ...


Ông Prach – Chhum và Mom – Sun, nghệ sĩ Chom – Riêng đã từng hát câu hát dân gian nhắc lại một đoạn bài hát rất mộc mạc về nguồn gốc xuất xứ lịch sử ghe Ngo. Tôi xin tạm dịch nôm na:

 

Ngày xưa đến ở nơi đây
Rừng đầy thú dữ rắn bò thi nhauĐi lại trên chiếc cây SaoCon thuyền độc mộc dềnh dàng trên sông...


Con rắn bò nhanh và nhanh thật, nhất là trườn đi trên mặt nước. Hình ảnh con rắn trườn đi trên mặt nước phản ảnh gần đúng hệt như chiếc ghe Ngo, và chiếc ghe Ngo được tạo dáng giống như con rắn thật.

Chiếc ghe làm bằng cây Sao phải tổ chức đi đốn tận miền xa nơi vùng núi cao mới có. Đốn xong dùng voi kéo xuống sông kết thành bè thả theo dòng nước để trôi xuôi về. Các cụ truyền nhau kể lại: hồi đó trên rừng lắm thú dữ, ở dưới sông cá sấu như bánh canh, sấu con bò lên bè gỗ như nhái con. Mỗi lần đi thế nào cũng mất năm bảy mạng cọp bắt, sấu nuốt.

Xuất phát từ hình tượng rắn bò chúng sợ bén mạng thi nhau chạy thoát thân khi người đến xục xạo khai phá đã đập vào mắt người Khmer và tư duy sáng tạo ra chiếc ghe độc mộc này.Trải qua những năm tháng lớn lên của lịch sử thiên nhiên, phù sa biển bồi đắp ngày một lớn dần. Nhiều sông ngòi do thiên nhiên tạo ra, đổ nghiên theo chiều mặt bằng, việc đi lại rất khó khăn. Người Khmer đến cư trú vùng này lúc đó chưa ổn định, người ta chưa đủ sức đắp đường đi mà bắc cầu qua lại giao tiếp với nhau, hơn nữa mang tâm lý sợ thú dữ nên cố tạo phương tiện đi lại bằng ghe độc mộc dưới sông, đi có tập thể để đối phó với thú dữ. Từ ghe độc mộc đơn sơ ấy. Sau này do yêu cầu tự vệ và chống chiến tranh giữa các tộc người xung quanh, người Khmer nghĩ đến cách đục đẽo ra "tuk ngo” để cho gọn nhẹ dễ bơi và bơi nhanh hơn. Hình thù ghe Ngo tựa như con rắn mình thon thon thoai thoải về hai phía, đầu uốn cong và thấp hơn đằng sau lái một chút. Ghe Ngo có chiều cong và có cây đóng cặp chặt ở đáy nối dài từ đầu tới sau lái, trên cong đóng nhiều thanh cây ngang, chiều ngang độ 1,20 m vừa để cho hai người ngồi bơi thoải mái theo từng cặp song song. Ghe Ngo thường có từ 46, 48 tới 50 chỗ cho người ngồi bơi và chỉ huy. Thân ghe người ta sơn bằng màu đỏ với độ dày khoảng 5 cm, và hai bên be trạm trổ hoặc vẽ vẩy rồng, rắn theo mô tiếp Naga. Đầu ghe vẽ các hình con thú, như con chim công, con sư tử, con cọp, con voi... vừa tượng trưng cho vẻ đẹp đồng thời biểu hiện cho sức mạnh của ghe mình.Vì ghe thân hình thon thon thắt dài kéo về hai phía, đầu và sau lái đều cong, nên nếu bơi động tác phối hợp không ăn ý nghịp nhàng rất dễ mất thăng bằng và bị lật chìm. Nên trước khi đưa xuống nước, người ta tổ chức tập bơi cho nhuần nhuyễn động tác ở trên cạn, sau đó mới đưa xuống tập bơi dưới nước. Người được chọn để bơi phải là thanh niên trai tráng khỏe mạnh quen bơi và bơi có nghệ thuật. Người bơi đã quan trọng, người ngồi đầu đánh đều đưa nhịp xòe tay ra chỉ huy qua từng nhịp lướt sóng, người đứng giữa đánh cồng thúc giục đưa nhịp động viên và người cầm lái lại càng quan trọng hơn. Người ngồi đầu chỉ huy được chọn từ những người có uy tín và thông tạo về môn đua ghe Ngo. Công dụng ghe Ngo thời ấy được coi như là một môn thể thao quân sự. Lúc có giặc, lúc thời bình ghe Ngo được dùng để đua vui chơi giải trí biểu dương sức sống văn hóa của dân tộc vào ngày lễ Oc – om – bóc vào rằm tháng 10 theo âm lịch Khmer (xê xích ít ngày, ngày rằm tháng 10 âm lịch Việt). Vì âm lịch Khmer trong một năm nhiều tháng, có ngày thiếu và một năm thiếu tới 11 ngày, nên không vào những ngày tháng dương lịch. Nhưng ngày hội đua ghe Ngo có nằm trong các ngày tháng 11 dương lịch. Từ xa xưa hàng năm cứ đến ngày rằm tháng 10 âm lịch dân tộc đồng bào Khmer tổ chức lễ cúng trăng Oc – Om – boc. Vào đêm ngày rằm này, trăng tròn đẹp, gió bấc thổi nhẹ, thời tiết mát mẻ, lúc này lúa đã no hạt và lốm đốm chín, người ta cắt những bông lúa chín đầu mùa đem về đâm cốm dẹp, tổ chức cúng trăng. Người Khmer có ý niệm về trăng, tôn thờ trăng coi trăng tượng trưng cho niềm ước mơ đẹp nhất và đem đến cho con người cuộc sống no ấm hạnh phúc, nhất là đối với tuổi trẻ. Vào những ngày tháng này họ rủ nhau ra trước sân nhà và đi trên con đường làng ngắm trăng, tắm trăng, đồng thời cũng là dịp con trai gái tâm sự tỏ tình.Người Khmer vốn sống bằng nghề trồng lúa nước. Trồng lúa nước ngày xưa rất khó khăn, tai họa thiên nhiên thường xảy ra luôn, có khi trồng xong lúa bị gió mưa, lụt lội cuốn trôi hết, nên việc đấu tranh chinh phục thiên nhiên bằng cách đắp bờ ngăn mặn giữ người nước ngọt, chọn giống lúa để sinh trưởng phù hợp với đất và thời tiết. Từ đó, mùa vụ đầu tiên không bị gió mưa tai họa thiên nhiên hủy hoại, lúa bụi to, trỏ đều, no hạt, được gặt hái thu hoạch tốt đẹp vào những ngày tháng nói trên. Nên lễ "Óc-om-boc” mang ý nghĩa mừng cơm mới vào những ngày trăng sáng, mưa gió chấm dứt, nước từ từ rút xuống, mở đầu cho một mùa khô ráo sau những ngày tháng lao động vất vả.Người ta cúng trăng vào đầu hôm ngày rằm lúc trăng vừa ló dạng. Cách cúng, người ta đem ra trước nhà một cái bàn tròn hoặc vuông tùy ý, trãi phủ lên một tấm vải màu đẹp, chưng lên đó một bình bông thật trang trọng. Sau đó người ta bưng mâm cúng lên đó, gồm đĩa cốm dẹp, chuối chín, dừa tươi vạt vỏ, khoai môn, khoai mì, mía, ... Ông bà gọi con cháu quy tụ lại, trãi chiếu quây quần ngồi xếp bằng về một phía chắp tay vái hướng về mặt trăng . Khi cúng xong, ông hoặc bà nắm một nắm cốm dẹp gọi từng đứa con cháu lên và đút cốm dẹp vào miệng cho từng cháu và hỏi: cháu muốn gì? Có cháu trả lời : cháu ước mơ kiếp sau muốn có thật nhiều vàng, bạc, châu báu, ngọc ngà, trâu bò, voi, ngựa ... có cháu trả lời : cháu ước mơ kiếp sau có vợ thật đẹp và giàu sang phú quý, một em gái nhỏ nhất trả lời câu hỏi rất ngây thơ: con chỉ mơ có nhiều cốm dẹp ăn hoài ... Sau khi cúng xong, ông bà bưng mâm cúng xuống gọi cả nhà ra ngồi quây quần cùng nhau ăn vui vẻ. Người Khmer gọi lễ này là lễ Óc-om-boc.Theo phong tục cổ truyền của dân tộc, để phục vụ ngày vui này, người ta tổ chức thi và chơi các trò chơi dân tộc như ném còn, kéo co, đấu võ, đua thuyền và biểu diễn văn nghệ,... Đặc biệt môn đua ghe Ngo và biểu diễn băn nghệ là hai môn được đồng bào ưa thích nhất. Nói đến Óc-om-boc, người ta bàn tán với nhau rất sôi nổi về ghe Ngo. Để tham gia vào cuộc đua ghe này, các địa phương thi nhau tu sửa, trang trí lại ghe của mình cho thật chắc và đẹp. Có nơi tu sửa xong họ tổ chức tập dượt cả tháng trước. Thanh nhiên nam nữ mua sắm quần áo mới để chuẩn bị đi chơi hội và xem đua ghe Ngo.Ngày xưa có lẽ cách đây hàng trăm năm về trước, vào ngày lễ Óc-om-bóc hàng năm, người Khmer thường tổ chức đua ghe ở Peam-kên-thô, tức là Vàm Tho, thuộc huyện Mỹ Xuyên ngày nay. Ở đó, ghe Ngo của các nơi từ vùng Bạc Liêu lên, các vùng Kiên Giang xuống đều thuận tiện, vì ở đó có một đoạn sông thẳng, dòng nước chảy đều, trên bờ có chợ búa, dân chúng cất nhà ở đông vui. Những người đến xem đua ghe lúc đó thường là đi bằng ghe "Ca hâu” (tức ghe bầu) và ghe "Ca chai” (tức ghe tam bản) đậu dọc hai bên bờ, họ đem theo nồi nêu, bếp củi tự nấu ăn. Sau này, khi Tây vào, chúng bắt phải dời điểm đua từ Vàm Tho về sông Ompuyea, tức là sông Nhu Gia, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên bây giờ.Trong thời kỳ Mỹ Ngụy, điểm đua ghe Ngo hàng năm được đời từ Nhu Gia về đua ở Kinh Xáng – Thị xã Sóc Trăng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, điểm đua ghe Ngo được đưa trở lại ở Nhu Gia và tổ chức chu đáo hơn. Mấy năm đầu cuộc đua ghe Ngo vào ngày "Óc-Om-bóc” được tổ chức ở Nhu Gia cũng rất vui, vui gấp trăm lần hơn so với các chế độ trước đây, nhưng vẫn chưa thỏa mãn đáp ứng theo nguyện vọng của khán giả. Để biểu hiện sự trân trọng và đáp ứng theo yêu cầu của quần chúng, và để tạo điều kiện cho mọi người đến xem dễ dàng, đông vui, ăn ở thuận lợi và thoải mái hơn, cuộc đua ghe Ngo lại được đưa trở lại tổ chức tại Sóc Trăng. Từ đó cứ đến ngày rằm tháng 10 âm lịch dân tộc cuộc đua ghe Ngo lại tái diễn ở Kinh Xáng thị xã Sóc Trăng (tức TP. Sóc Trăng ngày nay). Ở trung tâm thị xã Sóc Trăng vào những ngày ấy – trước ngày đua ghe một đêm, người từ khắp nơi đổ về như nước đổ về nguồn, và đêm hôm ấy, người đông chật không còn đường đi nữa. Các loại xe phải dừng lăn bánh. Đêm đó được gọi là một đêm không ngủ. Ở dưới sông ánh đèn rực sáng như hội hoa đăng. Từng cụm ghe Ngo tập kết là từng cụm hoa sáng.

Tiếng trống Chhay dăm đối đáp nhau
Tiếng sáo đối lại xé bầu trờiNhạc romvoong đua đưa nụ cườiNam nữ múa hát, từng đôi mặn mà

Hai đội đang tranh tài về đích

Và các đoàn dù kê cũng say sưa diễn suốt đêm. Mãn lớp này chuyển sang lớp khác. Khán giả cứ lũ lượt kéo vào rồi lại kéo ra như thay ca nhau vậy. Đường Giữa là đường mạch thị xã chứ đừng hòng ai mà qua nổi:

Ôi đẹp sao những đôi trẻ,
Kề vai nhau trổ nụ cười.


Sáng hôm sau mới thật là một ngày sôi nổi. Các ghe đua bắt đầu vào chung cuộc đọ sức thi tài. Hai bên bờ sông kéo dài trên cây số, hàng trăm người đứng chật ních không một khoảng trống, biển người như sóng lượn rực rỡ màu sắc như một vườn hoa.Rất đáng vinh dự tự hào, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác Hồ năm 1990, Đảng – Nhà Nước đã tổ chức Hội văn hóa thể thao các dân tộc, ghe Ngo cũng được đưa lên đua ở tại Bến Nhà Rồng – sông Bạch Đằng – TP.HCM để giới thiệu với khán giả Thành Phố – khán giả cả nước đã gây tiếng vang lớn cho môn thể thao dân tộc này.Năm nay tỉnh Sóc Trăng tổ chức vào dịp lễ cúng trăng "Óc-om-bóc” sẽ đem lại niềm vui lớn cho mọi người.Nhờ tạo được điều kiện thuận lợi hơn, nên người xem đến đông hơn. Các khán giả đến xem không chỉ gồm những người trong Tỉnh mà khách các tỉnh xa đến xem cũng nhiều. Không phải chỉ người Khmer thích xem đua ghe Ngo mà người Việt, người Hoa cũng hâm mộ. Lượng người xem so với những năm trước tổ chức ở tại Nhu Gia đông vui hơn nhiều.Có những nơi do địa lý thiên nhiên bất lợi, ít có con sông và thuận tiện, đồng bào không sắm ghe Ngo, nhưng họ vẫn giữ truyền thống phong tục ngày hội đua ghe Ngo và lễ Óc-om-bóc của dân tộc. Họ tổ chức đua ghe theo quy mô nhỏ bằng chiếc ghe con hoặc bằng bơi giả trên cạn, bằng cách ngồi hoặc đứng xếp hình theo hình tượng ghe Ngo, trên mặt nước lấy điểm chuẩn chấm bằng nhịp bước, động tác bơi tay đưa dầm lên xuống, kỹ thuật bơi đều, khỏe mạnh, nhịp nhàng và đẹp… cũng vui, hấp dẫn và sôi nổi. Hình tượng ấy, nay đã được cách điệu đưa lên sân khấu nghệ thuật, bổ sung cho nền múa dân tộc Khmer thêm phong phú và đa dạng.Rõ ràng cuộc đua ghe Ngo hàng năm quy tụ ở Sóc Trăng đã trở thành ngày hội chung của ba dân tộc Khmer-Việt-Hoa, làm cho mối quan hệ cộng đồng các dân tộc ở khu vực ngày càng gần gũi nhau về tâm lý, tình cảm, đoàn kết gắn bó nhu hơn trong lao động sản xuất, xây dựng đất nước, đấu tranh bảo vệ cuộc sống và xây dựng hạnh phúc chung của cộng đồng.(ST)

Nguồn: Vietnam Eductourism

Chủ đề: Lễ hội miền Nam | Lượt xem: 762 | Đăng bởi: hoangtu_bongdem2912_86 | Đánh giá: 0.0/0
Total comments: 0
Chỉ thành viên mới có thể thêm ý kiến.
[ Đăng ký | Đăng nhập ]
 
Trang chủ | Lý lịch! | Ghi danh | Đăng xuất | Đăng nhập 

Website được phát triển bởi các thành viên lớp 08cvhh - Khoa Ngữ Văn - Trường đại học Sư Phạm Đà Nẵng

== Website bắt đầu hoạt động từ ngày 01 tháng 5 năm 2011==